19 tháng 3, 2011

Cây cảnh trong nước và thế giới (2)

             Cây cảnh ở Huế:
             
Đến các trụ sở, văn phòng, doanh nghiệp, trường học, đền đài lăng tẩm ở Huế ... đâu đâu cũng bắt gặp những chậu cây cảnh trang điểm cho khuôn viên. Do nhu cầu chơi cây cảnh ở Huế rất lớn nên thị trường cây cảnh Huế phát triển nhanh, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn mở rộng ra các tỉnh miền Trung. Bình thường một chậu mai 2 – 3 năm tuổi có giá từ 100 – 150.000 VND, nhưng vào dịp Tết có thể lên đến 500 – 600.000 VND, thậm chí hàng chục cây vàng cho một chậu mai.
              Nghề trồng cây cảnh ở Huế xưa nay đều bắt nguồn từ thú chơi, từ sự đam mê nên các khâu từ chọn giống, ươm cây, tạo dáng, tạo thế được chăm chút rất kĩ. Huế lại là nơi hội tụ, góp mặt của nhiều giống cây cảnh trong Nam, ngoài Bắc rất đa dạng và phong phú, nhưng chủ yếu vẫn tập trung ở 10 loại chính, chia thành 3 bộ truyền thống: Tứ linh, tứ qúi, tam đa. Từ những gốc cơ bản này mà người chơi cây cảnh Huế sáng tạo ra muôn hình vạn trạng biểu tượng cho cây lá để gửi gắm tâm tư nguyện vọng của mình. Chính nhờ thế không ít nghệ nhân cây cảnh Huế đã nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc.
              Từ thú chơi tao nhã trong gia đình, bầu bạn, cây cảnh Huế bước ra thị trường với sức cạnh tranh rất cao, bởi đa phần người sản xuất kinh doanh cây cảnh đều là dân chơi kiểng thứ thiệt. Để có một chậu cây cảnh ưng ý đưa ra thị trường, họ tốn không ít thời gian, công sức từ sưu tầm cây, tạo hình, uốn thế sao cho hài hòa, tự nhiên, thanh thoát, thực sự là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Thời gian gần đây, thị trường cây cảnh Huế đã bắt đầu hình thành từ công đoạn kinh doanh, một số người chuyên sưu tầm các loại cây đang được ưa chuộng, số khác tập trung cung ứng cho người trồng các loại chậu kiểng khác nhau, phần còn lại là của những nghệ nhân. Nhờ vậy, thị trường cây cảnh Huế cũng sôi động, phong phú không kém các loại hàng hoá khác. Nơi có số lượng cung ứng cây cảnh lớn nhất hiện nay là công ty Công viên cây xanh Huế, mỗi năm bán ra 50.000 – 60.000 chậu cây cảnh lớn, nhỏ. Mấy năm gần đây, Huế rộ lên phong trào chơi mưng cảnh. Hàng trăm người đổ về các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Nam Đông, A Lưới tìm kiếm thu mua gốc mưng. Cây mưng mùa đông trút lá, nhưng sang xuân nẩy những lộc non màu đỏ rất đẹp, quan niệm của người Huế, lộc đỏ là báo điềm lành mang lại hạnh phúc, tài lộc và may mắn trong năm mới.
              Chợ cây cảnh Huế hàng năm được tổ chức từ 23 tháng chạp, bên bờ sông Hương trước Kỳ Đài, kéo dài từ Nghinh Lương Đình đến Thương Bạc như một rừng hoa khoe sắc. Khu chợ lớn nhất chiếm hết cả công viên Phu Văn Lâu, đến chân cầu Tràng Tiền là khu chợ hoa mai chậu, mai cành được trưng bày mời gọi khách mua cho đến tối 30 Tết. Vài năm trở lại đây, bên cạnh hoa mai, chợ hoa tết Phu Văn Lâu có thêm hoa đào từ miền Bắc được đưa vào Huế nên chợ hoa mai sôi động và phong phú hơn. Đây là chợ hoa tết lớn nhất ở miền Trung hiện nay. Cũng trong thời gian này, tại công viên Thương Bạc, hội thi bonsai được tổ chức để chọn ra cây cảnh đặc sắc đẹp nhất trong năm. Chợ hoa tết Huế, ngoài việc mua bán cây cảnh còn là một cuộc trưng bày mang nét văn hoá của người chơi cây cảnh Huế. Tại phiên chợ mỗi năm được tổ chức một lần này, ngoài việc mua sắm cho gia đình, người đi chợ còn được thưởng thức những tác phẩm bonsai nghệ thuật đặc sắc có một không hai của các nghệ nhân bonsai.
              Huế tuy chưa có những làng hoa chuyên canh nổi tiếng như Ngọc Hà, Nghi Tàm, Nhật Tân của Hà Nội; Gò Vấp của TP Hồ Chí Minh ... nhưng lại có kiến trúc nhà vườn độc đáo. Trong đó, cây cảnh đóng một vai trò quan trọng, góp phần tạo nên nét đặc sắc trong kiến trúc đô thị Huế. Từ một thú chơi tao nhã, lành mạnh, cây cảnh Huế đã hội nhập thị trường với những thành công rất đáng kể, góp phần làm sang, làm đẹp cho Huế và tăng thu nhập cho người dân.


              Cây cảnh ở Vỵ Khê:
             
Những ngày áp Tết, hàng trăm ôtô tải giăng thành hàng dài trên con đê sông Hồng, chờ vào thôn Vỵ Khê bng đào, quất, sanh, si, lộc vừng ... Hết tết, vào ngày thường, vẫn có hàng trăm người gánh sọt tới Vỵ Khê mua cây cảnh đem đi bán. Ngoài dân buôn sọt, còn có dăm bảy chiếc ôtô tải chở cây cảnh đi khắp nước, đến cả những nơi xa xôi như Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết, Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên ... để bán cho các công thự, tư gia, khách sạn sang, khu nghỉ dưỡng lớn để trang trí khuôn viên, sảnh đường, phòng khách.
              Thôn Vỵ Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực, Nam Định là thôn trồng hoa, cây cảnh nổi tiếng cả nước. Thôn có khoảng 500 hộ dân, thì tất cả đều làm nghề trồng hoa, cây cảnh. Ngoài nghề trồng lúa, mỗi hộ dân ở đây hằng năm thu lợi từ cây cảnh khoảng 40 triệu đồng, có hộ tới 200 triệu. Người dân Vỵ Khê rất hãnh diện bởi vì nơi đây có ngôi đền thờ tướng công Tô Trung Từ, ông tổ nghề trồng hoa, cây cảnh. Trước cửa đền có đôi câu đối chữ Hán đắp nổi trên hai cây cột gạch xây:
              Tài thụ, chủng hoa, Tô tướng thủy;
              Nguyễn trang, Vỵ xã, hiệu chi tiên.
              Nghĩa là:
              Trồng cây, ươm hoa là nghề do tướng công họ Tô khởi đầu;
              Trang ấp họ Nguyễn ở thôn Vỵ là tên gọi thuở trước.
              Tô Trung Từ là một nhân vật có tên trong chính sử nhà Lý, đã góp công dẹp loạn, đưa thái tử Sam lên ngôi, tức là vua Lý Huệ Tông (1211 - 1224), nên được phong chức thái uý phụ chính. Nhưng, là cậu ruột hoàng hậu, biết quá rõ cảnh triều chính rối ren, ông treo ấn từ quan, lui về ở ẩn tại thôn Vỵ Khê, bày dạy cho bà con cách uốn tỉa cây cảnh, chăm tưới hoa tươi, sống mộc mạc mà yên vui sau lũy tre làng. Nhà Lý suy vong, phải nhường chỗ cho một vương triều mới: nhà Trần. Vùng Tức Mặc, quê hương các vua Trần, trở thành một chốn phồn hoa chỉ sau kinh kì Thăng Long. Vỵ Khê, ngay từ dạo ấy, đã là nơi cung tiến hoa tươi, cây cảnh cho hành cung Tức Mặc. Khắp nước Việt ta, tỉnh, thành phố nào mà chẳng có dăm ba làng hoa. Nhưng có lẽ Vỵ Khê là làng hoa cổ nhất. Trong đôi câu đối vừa dẫn ở trên, vế thứ hai cho biết: thôn Vỵ Khê này vốn là trang ấp của họ Nguyễn có ông tổ là Nguyễn Công Thành, một danh tướng thời Ngô Quyền. Như vậy, có lẽ Vỵ Khê biết nghề trồng hoa, cây cảnh sớm hơn cả Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Đại Yên, Yên Phụ, Nghi Tàm, Nhật Tân ... ở Thăng Long?
              Từ đấy đến nay hơn một nghìn năm đã trôi qua, với biết bao thăng trầm, thế nhưng làng cây cảnh Vỵ Khê vẫn còn đó. Đến Vỵ Khê bạn sẽ thấy những thửa vườn xanh tươi, xum xuê cành lá. Những cây ô rô, bỏng nổ được cắt uốn rất khéo thành hình chim, thú. Con phượng kiễng chân, dang cánh sắp bay. Con cò co chân, vươn cổ. Và thần tình hơn cả là con nai nghiêng nghiêng đôi gạc, dường như đang ngơ ngác lắng nghe tiếng xào xạc từ nơi xa xôi nào đó vọng về, một chân trước co lên như đang hoảng hốt định bỏ chạy. Rồi những cây thế tuổi một vài trăm năm, giá mấy trăm triệu đồng. Cây thông dáng trực siêu. Cây bỏng nổ dáng hạc lập. Những cây sanh dáng mẫu tử tương thân hay phụ tử tương tùy ... Qua tên gọi gợi cảm của các thế cây, bạn như thấu hiểu được phần nào triết lý nhân sinh của người quân tử thời xưa: chuộng sự thanh cao (hạc lập), cương trực (trực siêu) cùng nếp sống gia đình hoà thuận, với tình cảm mẹ con ôm ấp thân thương (mẫu tử tương thân), với sự dìu dắt của người cha đối với cậu con trai đang rụt rè dấn bước trên đường đời đầy chông gai, cạm bẫy (phụ tử tương tùy) ... Cũng có những cây sanh uốn thành hình Chùa Một Cột, Gác Khuê Văn, Tháp Phổ Minh ... thật khéo. Ông cha ta xưa có những thú chơi thật tao nhã!
              Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, bên cạnh việc thừa kế các thế cây truyền thống, sau khi nước ta đã vào Tổ chức Thương mại thế giới, thì bà con làm nghề cây cảnh ở Vỵ Khê và các làng trồng hoa, cây cảnh khắp nước ta cũng nên có “tầm nhìn toàn cầu”, nghĩa là cần tìm tòi, sáng tạo thêm những kiểu dáng mới lạ, độc đáo, mới mong có thể đua tranh với nghệ thuật bonsai của Nhật Bản, hay nghệ thuật bồn tài (trồng cây trong chậu) của Trung Hoa (bao gồm cả Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan). Thật ra, từ bonsai trong tiếng Nhật bắt nguồn từ chữ bồn tài trong tiếng Hán, có nghĩa gốc gác nghệ thuật trồng cây trong chậu nằm ở Trung Hoa. Hàng nghìn năm trước, người Nhật Bản đã học nghệ thuật này từ người Trung Hoa, nhưng về sau, họ có nhiều sáng tạo mới mẻ, độc đáo, khiến chính người Trung Hoa cũng phải nể trọng và tìm cách “học ngược lại”. Đó là điều thường thấy trong các quá trình tiếp biến văn hóa ... Vỵ Khê cần mạnh dạn hướng tới thị trường khu vực và thế giới.



              Cây cảnh ở Hà Nội:
             
Nói đến cây cảnh Hà Nội người ta thường hay nhớ đến làng hoa Ngọc Hà. Ngọc Hà là tên một làng đồng thời cũng là tên một phường trực thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Phường Ngọc Hà ngày nay trước là phần đất của các làng: Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Đại Yên, nổi tiếng với nghề trồng hoa và làm thuốc nam. Phường Ngọc Hà hiện có diện tích là 80,10 ha và dân số là 16.774 người.
              Ngọc Hà là làng nhỏ, nhưng dân đông (năm 1926 có 990 nhân khẩu), đất thổ cư chiếm một tỉ lệ lớn, không có ruộng cấy lúa, chỉ có vườn để trồng hoa, rau nên vườn và nhà đan xen nhau. Nghề trồng hoa có từ lâu đời. Xưa kia, Ngọc Hà có rất nhiều ruộng đất bỏ hoang. Về sau, nhiều quan lại khi về hưu đã đến làng mua đất làm nơi dưỡng lão, trồng hoa và cây cảnh để giải trí, từ đó hình thành nghề trồng hoa, cây cảnh. Thời kì đầu, dân làng chỉ trồng các loại hoa để cúng như mẫu đơn, hồng, huệ, sói, cúc, thiên lý … Đầu thế kỷ XX, người Pháp nhập các loại hoa ngoại (lay ơn, cẩm chướng, cúc ...) và rau ngoại đến Ngọc Hà để trồng, dùng vào các dịp lễ, tết theo lịch dương. Người Ngọc Hà dần tìm học được kĩ thuật trồng các loại hoa này vừa để bán cho cả người Việt và người Pháp, vừa để chơi trong phòng khách nhà mình. Các quầy bán hoa bắt đầu mọc lên ở các ngã tư các phố Tây, tập trung ở khu vực Hồ Gươm và phố Hàng Lược, chợ Đồng Xuân. Vào dịp tết Nguyên Đán, hình thành chợ hoa Cống Chéo - Hàng Lược, chủ yếu do người làng Ngọc Hà bán. Cho đến những năm 1970, làng Ngọc Hà vẫn còn là một làng trồng hoa (cung cấp hoa tươi) trong nội thành Hà Nội. Ngoài trồng hoa, người làng Ngọc Hà còn vào thành phố làm thuê, làm viên chức trong các công sở, công nhân trong các xí nghiệp. Đời sống của dân làng xưa kia nhìn chung khá giả.
              Thời Pháp thuộc, làng hoa Ngọc Hà nổi tiếng lắm. Ở đây tuy không trồng đào như Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân, song trồng những thứ hoa sử dụng quanh năm suốt tháng như: Hoa hồng, hoa cúc, vi-ô-lét, lay-ơn, hoa păng-xê, bướm, đặc biệt có cả hoa loa kèn và hoa Phăng (cẩm chướng) nữa ... Thường sáng sớm, những cô gái nền nã, đầu chít khăn vòng dây, mặc áo tứ thân, thắt bao xanh, đi dép da trâu, mũi cong như dép cô gái đi chùa hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhẹ nhàng quảy gánh hàng hoa vào phố. Qua các phố Tây, rồi phố cổ, phố đông dân khác, họ bán hoa, thường cho các nhà viên chức Pháp, Việt, những nhà buôn phố cổ ... Nhiều cô quen bán ở các chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, hoặc giao hàng cho các cửa hàng bán hoa ở đây ... Đặc biệt, những ngày rằm, mồng một, những cô hàng hoa thường giao hoa cúng cho các nhà quen. Gói hoa cúng được gói trong các lá dong, cuộn vòng hoặc bẻ vuông góc, buộc bằng một sợi lạt giang rất mỏng rồi treo ngay ở cửa từng nhà. Trong gói hoa cúng có những bông hoa hồng, hoa hoàng lan, hoa ngọc lan vài nhánh hoa sói hoặc hoa mộc ... vừa đủ bày trong một đĩa nhỏ, hòa với nhang thơm dâng lên thần phật ngày đầu và giữa tháng ... Làng hoa thời ấy còn là nơi trai gái thanh lịch, nhất là những đôi đang thời yêu nhau, đưa nhau lên chơi, rồi mua tặng người đẹp một chục bông hồng đẹp nhất, hoặc đặt một bó lay-ơn cho lễ cưới sắp tới ...
              Sau này, đất nội thành hiếm. Dân bán hết vườn, ruộng trồng hoa, thậm chí lấp cả ao nên làng hoa đẹp xưa giờ chỉ còn trong ký ức những người cao tuổi. Ngọc Hà giờ chỉ còn lại một con phố ngắn phía bên ngoài vườn Bách Thảo, đến đầu phố Sơn Tây, nơi có một cái chợ nhỏ, còn mang tên chợ Ngọc Hà. Phố Ngọc Hà dài không tới bốn, năm trăm mét. Đầu phố Ngọc Hà phía Đông Bắc có ngôi đình, cách Vườn Bách Thảo một con đường cái. Đình thờ Huyền Thiên Hắc Đế - một nhân vật truyền thuyết đã âm phù vua nhà Lý đánh thắng giặc ngoại xâm. Đình đã bị huỷ hoại trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô cuối năm 1946, đầu năm 1947. Đến năm 1952 dân làng dựng lại đình. Ngọc Hà còn là những dấu tích lịch sử. Ngày 5-12-1898, dân Ngọc Hà đã cùng các nghĩa quân Cổ Nhuế, Vòng, Cót, theo Nguyễn Thanh và Nguyễn Quang Hoan, chiếm đồn Pháp ở Ngọc Hà. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, đêm 20-12-1946, tự vệ khu phố cùng Vệ Quốc đoàn tập kết vào đồn này một lần nữa, phá kế hoạch của bọn Pháp tấn công mở rộng ra phía tây thành phố. …
              Những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá và trình độ dân trí, nhu cầu sử dụng cây cảnh trong đời sống hàng ngày càng trở lên phổ biến. Chịu tác động của các yếu tố kinh tế thị trường và nhận thức xã hội, nghề trồng cây cảnh những năm qua đang thực sự trở thành một ngành sản xuất mang lại hiệu quả cao. Sản phẩm cây cảnh của Hà Nội phong phú với các loại hoa mang sắc thái dân tộc độc đáo như Đào, Mai và không ít những giống hoa mới đã trở nên quen thuộc với người trồng hoa như Lay-ơn, Huệ tây (Loa kèn), Cẩm chướng ...
              Các chủng loại hoa của Hà Nội ngày nay bao gồm cả một số loài hoa có nguồn gốc á nhiệt đới và ôn đới như: Đào, Cúc, Hồng Đà Lạt, Phăng, Violet, Lay-ơn, Loa kèn trắng ... Các vùng hoa chủ yếu của Hà Nội hiện tại: Nhật Tân, Quảng An, Phú Thượng, Vĩnh Tuy, Định Công ... hầu như đều nằm trên đất phù sa sông Hồng. Đây là loại đất có chất dinh dưỡng cao tạo thành những đất vườn trồng cây cảnh rất có giá trị. Hà Nội cũng là nơi tập trung nhiều nghệ nhân trong nghề trồng trọt, có nhiều khả năng và kinh nghiệm điều khiển, tạo thế và dáng cho cây cảnh.
              Mặt khác là mảnh đất với bề dày lịch sử của chốn đô hội nên Hà Nội cũng là nơi tích lũy được nhiều kĩ thuật cổ truyền trong nghề trồng cây cảnh qua các thế hệ. Cây cảnh Hà Nội tập trung quanh vùng Hồ Tây là chủ yếu, với quy mô sản xuất khoảng 140ha - 160 ha. đây chính là địa bàn cung cấp chính và thường xuyên cho nhu cầu hoa, cây cảnh của thành phố. Tuy nhiên các sản phẩm chính vẫn là hoa cắt cành (Lay-ơn, Thược dược, Cúc, Đồng tiền, Violet, Huệ, Hồng ...), một số cây thế trong các dịp lễ tết: Đào, Quất và một số loại cây cảnh phổ biến như Sứ, Thiết mộc lan, Thông lùn, Vạn Tuế, Dứa hoa đỏ, Tùng thấp, Bách tán, Xanh, Si, Chuối cảnh, Xương rồng ... Ngoài ra còn có các loại hoa chậu như Trà, Địa Lan, Phong Lan, Đỗ Quyên. Đặc biệt Quất là loại cây cảnh chỉ phổ biến vào dịp Tết. Nhiều cây được tạo tán, tạo tầng độc đáo. Những loại cây thế này chủ yếu phục vụ trang trí nội thất, khuôn viên, tư gia, các công sở, nhà hàng, khách sạn hoặc các công trình văn hoá. Đây là sản phẩm đòi hỏi phải có thời gian, nghệ thuật tạo hình nên giá trị rất cao.
              Sản phẩm hoa cắt cành của Hà Nội khá phong phú bao gồm cả các loại hoa, thu hoạch nhiều lần (lưu gốc), hoa thu hoạch một lần. Các loại hoa thu hoạch nhiều lần chủ yếu là:
              Hoa đào: Hoa đào có nhiều loại như đào bích, đào phai hoặc đào cảnh. đây là loại hoa truyền thống của người dân Hà Nội trong dịp đón xuân. Vì vậy việc trồng đào quan trọng nhất là điều tiết để cho hoa nở đúng vào dịp tết Nguyên Đán. Ngoài ra còn kĩ thuật tạo cành, tạo thế để tăng giá trị của sản phẩm.
              Hồng Đà Lạt: Là một sản phẩm mới du nhập trên thị trường Hà Nội một vài năm gần đây, song với đặc điểm hoa to, đẹp và sắc màu phong phú, nó hầu như đã chiếm lĩnh được thị trường và trở thành thứ hoa cao cấp, đáp ứng thị hiếu của người sành chơi hoa Hà Nội.
              Nghề cây cảnh mang nét đặc thù riêng về kĩ thuật, đặc biệt là các khâu nhân giống, tạo dáng. Sản xuất và tiêu thụ cây cảnh ít bị chi phối bởi điều kiện mùa vụ, khí hậu, thời tiết nên có thể chủ động trong sản xuất kinh doanh. Cây cảnh là sản phẩm đặc thù vừa mang ý nghĩa kinh tế lại vừa có giá trị nghệ thuật - văn hoá cao. Trên thế giới, nghề sản xuất cây cảnh đã trở thành ngành công nghiệp mang lại thu nhập đáng kể cho nhiều quốc gia. Những năm gần đây, nghề cây cảnh đã có những bước phát triển mạnh mẽ, mang lại lợi ích to lớn cả về kinh tế - xã hội và cảnh quan môi trường. Tuy nhiên, sự phát triển còn mang tính tự phát, nhiều vấn đề về kĩ thuật và tổ chức kinh doanh sản xuất chưa được nghiên cứu giải quyết.

Nguồn: Chat Master

Cây cảnh trong nước và thế giới (3)

Sơ lược thị trường cây cảnh thế giới:


              Bonsai (tiếng Nhật: 盆栽; Hán Việt: bồn tài, nghĩa là "cây con trồng trong chậu") là loại cây nhỏ có dáng cổ thụ trồng trong chậu kiểng. Theo một số chuyên gia nghiên cứu về cây cảnh thì nghệ thuật bonsai của Nhật Bản chính là bắt nguồn từ nghệ thuật penjing của Trung Quốc.
Thegioi01
             
Penjing là nghệ thuật sáng tạo cảnh vật thu nhỏ trong bồn chứa của Trung Quốc. Từ penjing gồm hai ký tự: "pen" nghĩa là "chậu" hay "vật chứa", và "jing" nghĩa là "cảnh quan". Một nghệ nhân có thể sử dụng nguyên liệu là cây và đá tự nhiên để miêu tả sinh động cảnh núi non thôn dã với suối chảy róc rách, hoặc cảnh non nước với rừng rậm nhiệt đới. Đôi khi chỉ một cảnh vật đơn giản hơn nhiều cũng có thể thể hiện được toàn bộ chủ đề của tác phẩm. Penjing và bonsai là hai kiểu nghệ thuật có liên quan chặt chẽ với nhau. Penjing cổ xưa hơn, được coi là bắt nguồn của bonsai. Có một sự khác biệt lớn trong phạm vi nghệ thuật bonsai là "một cây trong chậu" và bởi vậy bonsai được định nghĩa hẹp hơn penjing là “cảnh vật trong chậu chứa ". Rất nhiều cảnh đẹp, tinh tế được làm ra bởi các nghệ nhân Trung Quốc rõ ràng không tuân theo những qui tắc của nghệ thuật bonsai. Penjing có thể được tìm thấy nhiều biến thể, người Trung quốc công nhận 3 trường phái đặc trưng: Cây (Shumu Penjing); cảnh (Shanshui Penjing); nước và đất (Shuihan Penjing).
              Penjing là một loại hình nghệ thuật có lịch sử trên một ngàn năm. Theo những ghi chép lịch sử sớm nhất, một tác phẩm gồm cây và đá trong một bồn chứa được bài trí nghệ thuật có niên đại từ triều đại Tang (618-907). Tới triều đại Song (960-1279), người Trung Quốc đã trải nghiệm môn nghệ thuật này ở một cấp độ nghệ thuật cao hơn. Nghệ nhân penjing lấy cảm hứng không chỉ từ thiên nhiên mà là từ thơ ca miêu tả thiên nhiên và tranh phong cảnh sơn thủy. Tranh phong cảnh sơn thủy đạt tới đỉnh cao trong triều đại Song (960-1279), penjing nhờ vậy cũng phát triển mạnh mẽ. Trong những năm đầu của vương triều Qing (1644-1911), môn nghệ thuật này đã trở nên phổ biến, những tài liệu hướng dẫn đầu tiên đã xuất hiện. Ngày càng được nhiều người biết đến, penjing mang tính thương mại, dân gian, … và phát triển ngày càng tinh tế hơn để trở thành một trường phái nghệ thuật. Thêm vào đó, penjing được tinh lọc về mặt thẩm mĩ, người ta có thể tìm thấy những cây được tạo dáng bởi đại diện của các trường phái mang tính khu vực, nơi những thân cây được uốn để biểu đạt hình tượng những con rồng hoặc những tán lá che, miêu tả những lớp mây, hay những cây được tạo hình giống với những nét đặc điểm ngẫu nhiên nào đó. Các biến thể của penjing là bất tận. Trong truyền thống Trung Hoa, penjing là nghệ thuật của giới học giả cũng như nhà thơ, nghệ thuật viết chữ đẹp, hội họa và nghệ thuật sân vườn. Trong những năm sau này của triều Qing (1644-1911), thế kỷ 19, ách ngoại xâm đã dẫn tới thời kì suy tàn của penjing, chiều hướng này ngày càng trầm trọng trong suốt những năm chiếm đóng và độ hộ của nước ngoài, chiến tranh, nội chiến, cách mạng mà Trung Quốc đã trải qua trong suốt thế kỉ 20. Những bộ sưu tập cổ đã bị thất lạc, những nghệ nhân đã phải đấu tranh để tồn tại và để vượt qua bằng chính kiến thức, sự hiểu biết sâu sắc của họ. Chỉ trong thời gian 20 năm sau đó, điều kiện ở Trung Quốc mới cho phép bắt đầu thời kì phục hưng môn nghệ thuật cổ xưa này. Ngày nay, số lượng những người đam mê và sưu tầm ngày càng tăng nhanh, họ khám phá bản ngã của mình trong nghệ thuật penjing. Có giả định rằng, nghệ thuật sáng tạo cây thu nhỏ đã du nhập vào nước Nhật khoảng thế kỉ thứ 13. Thời gian chính xác thì không được biết đến. Trong thế kỉ thứ 6 và thứ 7, Nhật Bản đã gửi phái viên (công sứ) đến Trung Quốc để nghiên cứu về nghệ thuật, kiến trúc, ngôn ngữ, văn chương cũng như hệ thống pháp luật của Trung Quốc. Nhập khẩu văn hóa và nghệ thuật Trung Quốc đã xảy ra trong suốt thời đại Nam Song (1127-1279). Chan, một hình thức của đạo Phật với giáo huấn có nguồn gốc Ấn Độ kết hợp với Đạo Lão, một đạo gốc Trung Quốc, đã du nhập tới Nhật Bản trong thời gian này dưới tên “Zen”. Sự chuyển giao văn hóa lớn bắt đầu vào những năm 1200, những nghệ sĩ Nhật Bản tiếp tục tìm kiếm sự định hướng, triết lý, tự do “mượn” ý tưởng, chủ đề (cảm hứng), cũng như kiến thức về kĩ thuật và nghệ thuật làm vườn ở Trung Quốc.
 Thegioi02
              Mục đích của các nghệ nhân penjing không chỉ tái hiện lại cảnh thiên nhiên trong một bồn chứa mà còn nắm bắt được cái tinh túy và cái hồn của nó. Giống như một bức tranh phong cảnh sơn thủy Trung Quốc, penjing nghiên cứu trong sự tương phản. Trên góc độ triết học, sự biểu hiện của các mặt đối lập là bằng chứng của khả năng khái niệm hóa vũ trụ (vạn vật) như đang được chi phối bởi 2 cực của nguồn năng lượng vũ trụ là nguồn năng lượng lạnh (âm) và nguồn năng lượng nóng (dương). Trên phương diện nghệ thuật, sự tương phản tạo nên sự nhịp nhàng (hài hòa) và trạng thái căng đột ngột, cái mà sau đó được giải quyết trong sự cân bằng động, một trạng thái thăng bằng hài hòa tinh tế. Đạt tới sự hài hòa trong cấu trúc tổng thể là quan trọng, đặc biệt trong một tác phẩm được cấu tạo bởi đa dạng các thành phần như “nước - đất” nơi các yếu tố như cây, đá, rêu, thảm cỏ và nước, tất cả đều cần thiết phải hài hòa với các yếu tố khác và góp phần vào việc thiết kế một kiểu dáng đầy ý nghĩa. Thêm vào đó, quyết định việc bài trí trên một bồn chứa và xác định nơi đặt tác phẩm, các nghệ nhân sẽ quan tâm đến chủng loại cây, số lượng cây được dùng, kích thước của chúng, xu hướng thân và mật độ tán. Họ sẽ chọn đá theo kích thước, màu sắc, hình dáng, chi tiết bề mặt của nó và phải phù hợp với cây. Cuối cùng mọi yếu tố trong thiết kế đều cần phải liên quan tới tất cả các yếu tố khác để toàn bộ cảnh hiện ra như một tổng thể đồng nhất, một tác phẩm hoàn thiện. Một tác phẩm penjing nổi tiếng không chỉ có đẹp mà phải trông hoàn toàn tự nhiên. Nó được nhìn như là bản thân tự nhiên đã tự sáng tạo ra nó - giống như một phần kì diệu của tự nhiên.
Thegioi03
             
Bonsai và penjing có thể được quan sát trong sự suy tưởng. Bản thân việc sáng tạo ra bonsai hay penjing mang tính trầm tư, một bài tập mang tính tư duy - một dạng thực hành của thiền. Những cây nhỏ và phong cảnh thu nhỏ được xem là ca ngợi tự nhiên và năng lượng sẽ được mở rộng bởi môi trường tự nhiên nguyên sơ. Sáng tạo và chăm sóc bonsai, penjing sẽ khiến bạn gần gũi với thiên nhiên hơn, cho phép bạn cảm nghiệm nó theo nhiều cách trực tiếp và riêng biệt. Để hiểu sâu sắc về bonsai, penjing, việc thực hành sáng tạo cây và phong cảnh thu nhỏ cần được cảm nhận dưới góc độ của hai trường phái triết học lớn Trung Quốc, Đạo Lão và Thiền - Phật giáo. Đạo Lão đã dùng những ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật Viễn Đông trên 2000 năm. Đó là cách tư duy sống mà có thể đạt được sự tự do về thể xác và tâm hồn. Mục đích của Đạo Lão nêu rõ nguồn gốc đích thực bằng việc vứt bỏ những công thức tư duy và thái độ mang tính qui ước cứng nhắc. Nó cho thấy rằng bằng việc học theo ngoại cảnh và đưa ý nghĩ của chúng ta một cách tự nhiên, năng lượng sáng tạo to lớn có thể được khơi mở. Việc tác động vào nhịp điệu của tự nhiên và am hiểu về sự bị tác động qua lại của mọi thứ xung quanh chúng ta là thành phần chủ yếu của giáo huấn Đạo Lão. Phật giáo Thiền tiến triển như một nhánh mới của đạo phật mang những đặc điểm Trung Hoa độc đáo. Sau khi những nhà tu Ấn Độ đã truyền bá giáo huấn của Đức Phật vào Trung Quốc khoảng 2000 năm trước đây, kinh kệ đã được biên dịch bởi những nhà hành nghề truyền giáo Đạo Lão ở Trung Quốc. Điều này đã dẫn đến một kiểu bị đồng hóa cao của Phật giáo, cái mà vẫn giữ được rất nhiều yếu tố chủ yếu của Đạo Lão. Ngồi thiền theo phong cách Trung Hoa (“zou chan” theo tiếng Trung Quốc, và “za zen” theo tiếng Nhật) không nhằm mục đích tìm kiếm để mang tư tưởng đặt dưới sự kiểm soát cứng nhắc như ở Phật giáo Ấn độ truyền thống, nhưng thay vào đó là để giải phóng, khuyến khích luồng tư tưởng không bị trở ngại, tốt đẹp thực sự và tự nhiên. Chan đã phổ biến ở các nước phương Tây với tên tiếng Nhật là Zen, dạy rằng tư tưởng giác ngộ có thể tìm thấy sự sáng tỏ ở mọi nơi, tại mọi thời điểm, dưới hình thức “sự lĩnh hội đột xuất”. Và vì vậy, một nghệ nhân bonsai hay penjing, làm việc với các nguyên liệu tự nhiên và sự tập trung mọi thời điểm, có thể đến với sự hiểu biết bất ngờ, nguồn cảm hứng và hướng giải quyết. Đây là quá trình sáng tạo. Nó thường tìm đến các nghệ nhân một cách lặng lẽ được tạo nên bởi sự suy ngẫm một cách tích cực. Sắp xếp cây và bài trí đá, nghệ nhân ấy đột nhiên khám phá ra một vài thứ mới, không dự định trước - một tác phẩm được thổi hồn một cách tự nhiên, hài hòa, cân đối, đưa đến một vẻ đẹp tuyệt vời, biểu hiện vũ trụ và chân lí vĩnh cửu bằng phương pháp dường như ít tốn công hơn.
              Một số trường phái bonsai của Trung Quốc:

+ Trường phái bonsai An Huy:
Thegioi04
              Khu vực Huyện Hợp và Vân Nam của An Huy bốn mặt là núi vây quanh nên dân chúng ở đây thường trồng cây trên sườn núi để dùng làm bonsai. Vì thế họ có kinh nghiệm phong phú về trồng trọt và tạo dáng, hình thành một phong cách nghệ thuật độc đáo, trở thành một phái gọi là phái An Huy.


              Chậu kiểng An Huy với đặc điểm là màu xanh (thương cổ) độc đáo. Các loại cây phái An Huy thường dùng là cây Mai, La Hán tùng, Hoàng sơn tùng, Hội bách, Thúy bách, Đào Quế hoa, Tử Vi, Nam thiên trúc ... Bonsai An Huy tạo dáng đều bắt đầu từ cây non, rồi dùng gậy cắm vào đất làm vật chống cây giúp tạo dáng. Mỗi năm tiến hành một lần, chủ yếu là uốn cong hình thể cành lớn, còn cành nhỏ thì không phải gia công. Một chậu kiểng An Huy từ lúc đánh rễ cho đến khi định hình thường phải trải qua 10 năm.


+ Trường phái bonsai Thượng Hải:
Thegioi05
              Bonsai Thượng Hải là trường phái nghệ thuật bonsai của thành phố Thượng Hải. Bonsai tự nhiên phóng khoáng, qui cách hình thức muôn hình muôn vẻ: có loại bonsai mini, cũng có loại bonsai siêu nhỏ. Cách chăm sóc là từ lúc nhỏ, cũng có loại đào trên núi mang về chăm sóc. Tạo dáng đều dùng phương pháp "bó thô cắt nhỏ". Trước tiên lấy giàn thép bó lại các nhánh chính, sau một năm cởi dây ra và gia công cắt tỉa. Hình thức gia công muôn hình muôn vẻ, nhưng sau khi thành hình các nhánh cây phải uốn cong tự nhiên, đường nét sáng sủa, lá cây phân bố đều … Phái Thượng Hải thường thông thoáng, tầng lớp rõ rệt, biến hóa phong phú như vẽ trong tranh nên có phong cách độc đáo, riêng biệt. Các loại cây dùng cũng phong phú ước có hơn trăm loại, thường có Ngũ kim tùng, Hắc tùng, La Hán tùng, Chân bách ... Ngoài ra còn có cây Du, Phong, Tước Mai, các loại trúc Trảo tử, Hoàng Dương, Lục nguyệt sương, Nam Thiên trúc, Thạch lựu ...


+ Trường phái bonsai Dương Châu:
Thegioi06
            
Bonsai Dương Châu lấy trung tâm là Dương Châu tiêu biểu cho phong cách bonsai khu vực phía Bắc tỉnh Giang Tô. Chậu kiểng Dương Châu có đặc điểm lấy quấn để tạo dáng đều phải gia công từ lúc còn non. Uốn cành thành hình con rắn, dày một tấc ba vòng, khiến cành lá cắt bó thành hình vân phiến (mảnh mây) cực mỏng. Thân cây thành hình xoắn ốc cong lại. Cây có hình bậc thang 1 - 3 tầng và nhiều tầng. Chậu kiểng Dương Châu thường rải sỏi trong chậu gọi là điểm thạch. Lấy sỏi đá so sánh với thực vật làm cho cây có khí thế ngút trời, đồng thời tăng thêm dáng vẻ tự nhiên. Bonsai Dương Châu còn một loại đặc biệt là kiểu Thủy hạn, nghĩa là trong chậu kiểng có một phần đất, còn một phần là nước. Như vậy có sơn thủy lại trồng cây nên rất được ưa chuộng. Cùng với loại này còn có loại Hạn bồn thủy ý dùng đá cuội nhỏ để thay cho nước chảy, tuy không trữ nước song có cảm giác như nước chảy. Loại cây bonsai chủ yếu là cây Tùng, Bách, Du, Dương (Trảo tử Hoàng dương) và La hán tùng, Nghênh Xuân, Lục nguyệt sương …


+ Trường phái bonsai Tô Châu:
Thegioi07
             
Bonsai Tô Châu lấy thị trấn Tô Châu làm trung tâm, tiêu biểu cho phong cách bonsai khu vực phía Nam tỉnh Giang Tô. Tạo dáng bonsai điển hình là thân cây đứng có 6 đài ba thác một đỉnh. Toàn bộ lấy quấn làm chính và cần tới hơn 10 năm thì quá trình gia công mới hoàn thành. Chậu kiểng Tô Châu phần lớn là đào các cây cổ ở núi, rồi ghép thêm cành vào dùng phương pháp chỉnh hình "bó thô cắt nhỏ". Các loại cây gồm các loại cây có lá như Tước Hải, cây Du, Tam giác phong, Thạch lựu và Mai. Mấy năm gần đây, chậu cảnh Tô Châu đã phá vỡ phương pháp truyền thống lấy thiên nhiên làm đẹp, phản đối tạo dáng mềm mại, dùng bó là chính trở thành dùng cắt là chính, lấy bó làm cơ bản.


+ Trường phái bonsai Tứ Xuyên
Thegioi08
             



Bonsai Tứ Xuyên lấy Thành Đô làm trung tâm, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật bonsai tỉnh Tứ Xuyên. Bonsai Tứ Xuyên có những qui tắc phong phú đa dạng, có nhiều danh mục và mỗi thứ lại có các luật riêng. Thân cây và cành cây ngay lúc nhỏ phải uốn cong với các cách khác nhau, thường chú trọng cấu đồ không gian lập thể. Các kiểu bonsai có kiểu "treo buộc", treo vuông, treo đối nhau, rồng cuộn tam loan cửu đáo, đại loan tùy chí. Phần rễ đều dùng nhiều loại rễ giao nhau hay rễ treo lộ trảo. Các loại giống cây dùng cho bonsai là Kim thiên tử, Thiếp canh hải đường, La hán tùng, Lục nguyệt sương, Mai, Thạch lựu, Trúc U ... Mấy chục năm nay, bonsai Tứ Xuyên dựa trên cơ sở truyền thống, sáng tạo ra một loạt các kiểu dáng có màu sắc tự nhiên.



+ Trường phái bonsai Lĩnh Nam:
Thegioi09
             
Bonsai Lĩnh Nam lấy Quảng Châu làm trung tâm, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây). Những nhà làm bonsai đã dùng cảnh sắc "nhấp nhô chập chùng" để sáng tạo ra phương pháp tự hình "cắt tỉa". Loại chỉnh hình này có tỉ lệ thích đáng giữa cành và lá, trên dưới đều nhau, chú trọng đường cong ở rễ, thân và cành. Cây có dáng tự nhiên không gò bó. Mặc dù do bàn tay người tạo ra song đem lại vẻ đẹp thiên nhiên một cách độc đáo. Hình thức thường thấy của bonsai Lĩnh Nam là hình đại thụ, thân cây chắc khỏe, rễ cây sum xuê, lá mọc rậm rạp. Bonsai Mộc Miên thân cây mộc thẳng, cành bên bằng nhau. Loại bonsai kiểu vách núi chia ra loại toàn bộ và một nửa; song đều dùng cách chiết cành ghép thân nên có dáng khỏe mạnh. Bonsai loại rừng cây gồm ba cây trở lên hợp thành, mô phỏng cảnh rừng rậm có không khí thiên nhiên. Loại cây thì thường chọn các cây Du, Tước Hải, Cửu Lý Hương, Trà Phúc Kiến ... có mầm mọc nhanh và khỏe.
              Việc chơi bonsai ngoài việc yêu thiên nhiên, cái đẹp, nó còn mang một ý nghĩa sâu xa là động viên người chơi phải sống mạnh mẽ giống như cây bonsai đã sống. Trên thế giới, người ta chia bonsai thành bốn nhóm:
+ Cây dưới 15 cm là loại bonsai rất nhỏ.
+ Cây cao từ 16 đến 30 cm là loại bonsai nhỏ.
+ Cây cao từ 31 đến 60 cm là loại bonsai trung bình.
+ Cây cao trên 60 cm là loại bonsai lớn.
              Loại dưới 15 cm là "mini bonsai", thường được trồng trong chậu nhỏ và trưng bày trong nhà. Còn loại trên 60 cm là cây trồng trong chậu đặt ở sân vườn hoặc trước hàng hiên nhà. Ban đầu, chỉ có 5 thế bonsai cơ bản là: thẳng đứng (Chokkan), thẳng đứng phóng khoáng (Moyogi), nghiêng (Shakan), thác đổ (Kengai) và nửa thác đổ (Han Kengai ). Về sau, người ta phát triển thành nhiều thế khác như: rễ phủ trên đá (Sekijoju), rễ trong đá (Ishizuke), chổi (Hokidachi ), bạt phong (windswept), song thụ và tam thụ (Ikadabuki), thế lùm (clump style), văn nhân (bunjin-gi), thế cành rủ (weeping style), thế gỗ mục (dead wood) và nhóm cây hay rừng (Yose Uye) ...
              Người ta thường dựa vào các yếu tố sau để đánh giá một cây bonsai có giá trị:
+ Cây phải trổ nhiều hoa và hoa phải có màu sắc đẹp.
+ Lá xanh mướt, bóng; lá càng nhỏ càng tốt.
+ Thân cây phát triển kiểu "đầu voi đuôi chuột" (phần gốc lớn hơn phần ngọn). Một cây có thân suôn đuột, đường kính gốc và phần ngọn không chênh lệch nhau nhiều thì không thể làm thành cây bonsai.
+ Cành, nhánh phải phân chi rõ ràng, phù hợp với một loại dáng thế nào đó đã định trước. Cành, nhánh phải mọc được những chồi non tốt.
+ Vỏ cây phải thu hút được cái nhìn của người thưởng ngoạn (càng sần sùi, lộ vẻ già nua càng tốt).
+ Bộ rễ dày, to, gân guốc nằm lộ khoảng 1/3 trên mặt chậu.
              Những yếu tố nêu trên kết hợp hài hòa với nhau sẽ tạo ra một cây bonsai lí tưởng (nếu có dáng thế phù hợp).
              Người ta dễ dàng nhận biết được tính tình của một con người qua cây kiểng người ấy trồng. Trong thuật trồng cây, những cây cổ thụ tí hon trồng trong những chiếc chậu cạn, thu gọn trong khuôn khổ bé nhỏ, có nhiều giá trị. Người chơi cây kiểng loại này phải là những tay làm vườn lành nghề, say mê trong nghề và khiếu thẩm mĩ cao.
              Người phương Đông có truyền thống ca ngợi và tôn trọng tuổi già. Bonsai là cách thể hiện tuổi già cây cỏ được thu nhỏ và trang trọng. Không làm lạ khi thấy thuật chơi bonsai thịnh hành khắp nhiều nước phương Đông. Người già lại rất thích bonsai.
              Cây kiểng là một công trình nghệ thuật dài lâu. Cây kiểng có khi lưu truyền từ đời cha đến đời con. Có nhiều cây kiểng tí hon sống hàng thế kỷ, truyền từ đời nọ sang đời kia. Người giữ cây có một quyền lực tinh thần vô cùng thiêng liêng đối với các tác phẩm của mình đã từng ra công vun vén. Phải được người giữ cây cho phép mới được định đoạt số phận của các chậu kiểng. Bán các cây kiểng chẳng khác gì bán mất con cái của người giữ cây, cho nên tại Nhật ít thấy những chỗ bán cây kiểng và người mua cũng thận trọng khi tiếp xúc với người bán cây kiểng. Giá cây kiểng ở đây rất cao.
              Nhật Bản hiện nay phát triển một trường phái chơi cây kiểng mới lan rộng ra cả giới trẻ và các bà nội trợ: đó là nghệ thuật trồng hoa trong chậu. Khác với hoa cắt cành có nhiều khuyết điểm như thời hạn sử dụng ngắn, phải thường xuyên thay nước …, hoa trồng trong chậu tươi rất lâu mà không cần tốn công chăm sóc nhiều. Hoa trồng trong chậu đang thịnh hành ở Nhật Bản, chúng được trồng đủ loại với nhiều kích cỡ, dáng vẻ khác nhau và bày bán như thực phẩm ở nhiều siêu thị. Hoa trồng trong chậu đã len lỏi vào từng nhà dân, lên các sảnh đường sang trọng, có mặt trong các buổi tiệc, lễ hội lớn … Trường phái hoa trồng trong chậu và trường phái bonsai hầu như không quan hệ gì với nhau. Hai cách trồng và cảm thụ hoàn toàn khác biệt. Có lần đi dạo trong công viên của Nhật, tình cờ tôi bắt gặp một số hoa kiểng do những nghệ nhân già trưng bày. Vốn ấp ủ dự án Bonsai nghệ thuật trong đầu từ lâu, tôi vội vàng rảo bước đến xem. Trước mắt tôi hiện ra những tác phẩm mộc mạc, rẻ tiền nhưng rất sáng tạo. Họ dùng nhiều vỏ cây khô xếp chồng lên nhau tạo thành vô số hình dạng thật lạ mắt, đan xen các vỏ cây đó là các loại hoa cúc bình thường. Vỏ cây khô và hoa cúc đủ màu đã tạo ra một trường phái hoa kiểng mới kết hợp giữa bonsai và hoa. Tôi sung sướng reo lên như mình vừa phát minh ra một hướng đi mới cho hoa kiểng Việt Nam. Có lẽ nào với những chất liệu như vỏ cây, đất, đá, nước, … phẩm màu, thơ họa, thư pháp … kết hợp với những loài hoa bình dị của quê hương tôi sẽ cho ra những tuyệt tác mà bất cứ ai cũng có thể trầm trồ và sử dụng? Tôi mơ mình đang đứng giữa một siêu thị hoa, với cơ man các loại hoa đủ màu sắc, hình dạng, và không thể cưỡng nổi ham muốn mua liền một chậu hoa nào đó tặng cho người mình yêu mến. Hoa kiểng trong chậu khi đem về nhà như một tác phẩm thiên nhiên thu nhỏ, chứa đựng nhiều ý nghĩa thâm thúy, tươi rất lâu, sẽ làm cho cuộc sống tinh thần của con người thêm hạnh phúc. Từ phát hiện đó, tôi có một niềm tin mãnh liệt rằng hoa kiểng Việt Nam sẽ có chỗ đứng và ngày càng phát triển vững mạnh khi tôi triển khai dự án này vào cuộc sống. Thời gian gần đây, người Nhật lại có kiểu "chơi cây kiểng bỏ túi". Những cây bonsai tí hon trồng trong chậu, mỗi chiều chừng 3 cm đến 4 cm được dân văn phòng mê tít thò lò. Tất nhiên, giá thành của nó không hề rẻ!
              
Dưới đây là một số hình ảnh về cây cảnh bỏ túi ở Nhật Bản:
 Minibonsai01
Minibonsai02
Minibonsai03
Minibonsai04
Minibonsai05
Minibonsai07
Minibonsai06
Minibonsai09
Minibonsai08
Minibonsai10
Minibonsai11
Minibonsai12
Minibonsai13
Minibonsai14
Minibonsai15
Minibonsai16
            
              Thật ra, bonsai của Nhật cũng có những nét đặc thù. Khi du nhập, người Nhật đã biến đổi theo thần trí và hồn tính của mình. Họ có thứ triết lý riêng cho bonsai. Triết lý đó là: Chậu cây kiểng là tượng trưng cho sự khắc khổ và khôn ngoan. Hiểu được nghệ thuật đó qủa không dễ. Cây cảnh thu nhỏ tiêu biểu cho một cây già lâu năm, đứng trơ trọi một mình trong vũ trụ bao la, có dáng dấp và phong thái rất đẹp. Tạo được hình ảnh như thế cho một cây bé nhỏ chỉ cao khoảng 30 cm thường trồng bằng hạt quả là việc không phải dễ dàng gì!
              Theo người Nhật, bất cứ việc gì muốn được xem là toàn thiện thì không những phải hội đủ các đặc tính vật chất, mà còn mang một tính chất không thể cân lường, không thể nhìn thấy, hướng về cõi vô hình. Người Nhật gọi tên là "sabi". Thuật ngữ "sabi" thật khó dịch ra đúng nghĩa. Có người tạm dịch là "patine", tức là lớp meo mốc, rêu phong, bám vào vật bằng đồng cũ, vào tấm bia cổ. Nhưng "sabi" lại có tính chất tinh tế hơn. Những bậc thầy về bonsai có nhiều bí quyết để tạo ra nét rêu phong như thế.
              Một cây cảnh toàn hảo không mang dấu vết gì, kể cả những vết uốn nắn mà nó phải trải qua. Nghệ thuật bonsai trọng về tự nhiên. Vỏ cây sần sùi, lồi lõm không đều, mặc dù phủ lớp rêu phong, nhưng phải là không có sự chắp nối, chiết cắt. Những cành vô dụng phải được cắt bỏ đi từ khi mới nhú ra. Tất cả thành phần trong cây cảnh phải hoà hợp, cành không nên già hơn rễ, rễ không già hơn cành.
              Đầu cây càng già thì càng tròn, trông giống như cái tán. Trái lại cây còn non thì đầu nhọn, được hiểu như tham vọng chưa được thoả mãn, trông thật trơ trẽn. Cũng như người, đến một lúc nào, cây cũng phải biết "an phận" của mình. Không gì khó coi hơn, một cây đã già nua mà "không biết nhẫn", cứ chìa đầu ra, hếch mặt lên trời. Đó là mất quân bình. Cũng là kém khôn ngoan, đã chống lại minh triết của tạo hoá. Chơi cây cảnh phải hiểu nguyên tắc này. Muốn tạo cho phần trên cùng của cây bé nhỏ có dáng tròn xinh xắn, cần phải tác động bằng nhiều cách. Hiệu quả tốt nhất là độ cạn của chậu. Các cành đều lệ thuộc ít nhiều vào rễ, vì rễ nuôi cành. Rễ đâm thẳng xuống, thì đầu cây sẽ nhọn. Rễ đâm ngang thì đầu tất bằng.
              Khi mùa đông đến, người ta bứng cây ra đặt xuống đất trong vườn theo phương pháp hồi xuân, những cành trên thường chỉa lên trời vì rễ đâm xuống. Như thế có thể tạo nên tán tròn. Với những ý niệm kể trên, một cây cổ thụ hoàn toàn lí tưởng trong bonsai phải thể hiện được thế quân bình thiêng liêng trong vũ trụ. Đầu trên của cây hơi cong tròn, trông vẻ khiêm tốn. Tuy nhiên, người ta cũng thấy đột phá một vài cây cổ thụ có những cành bên trên ngả mạnh về sau. Trông tưởng như những trận cuồng phong làm cho xô dạt về một phía. Đó là thể hiện số phận khổ đau của những người không muốn an phận, thủ thường.
              Trồng cây cảnh thu nhỏ là một nghệ thuật ít tốn kém mà một người nghèo hay một người giàu có đều có thể thực hành được. Trong bất cứ phòng khách nào của người Nhật cũng có chỗ dành riêng cho chậu cây cảnh. Chậu cây đặt trên một cái bàn con, phải vừa tầm nhìn của khách ngồi trong phòng để khách thấy được toàn thể mà khỏi nhướn người lên hay phải ngước mắt. Trong phòng khách của người Nhật thường thiếu vắng những đồ đạc, tranh ảnh, sắc màu rực rỡ, mục đích là để cho khách để ý đến cây kiểng đặt nơi trang trọng của căn phòng. Những câu chuyện xã giao của họ cũng khởi đầu bằng chuyện cây cảnh. Trên thị trường người Nhật không ghi danh mục bonsai, vì theo họ, đưa một chậu bonsai ra nước ngoài khiến cho cây cô đơn vô cùng.

Nguồn: Chat Master

Cây cảnh trong nước và thế giới (5)

Phân tích ưu khuết đim ca th trưng cây cảnh t đó tìm ra hưng phát trin cho d án Bonsai nghệt thuật
1. Ngành cây cảnh Việt Nam đang phát triển theo hướng bị động:
              Các bạn hãy đọc lại đoạn này: “Theo kế hoạch của tỉnh Đồng Tháp, từ nay đến năm 2025, ngân sách tỉnh sẽ đầu tư hệ thống thủy lợi, điện, xây dựng trung tâm nghiên cứu giống, phòng thí nghiệm cấy mô, hỗ trợ sinh viên địa phương theo học chuyên ngành về nghiên cứu hoa phục vụ tại chỗ ... trên 80 tỉ đồng để phục vụ phát triển của làng hoa. Mục tiêu của địa phương là phát triển làng hoa Sa Đéc theo hướng công nghiệp, ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật mới vào sản xuất các giống hoa, cây cảnh nhiệt đới phục vụ trong nước và xuất khẩu. Theo kế hoạch, diện tích trồng hoa tại đây vào năm 2015 là 300 ha, năm 2020 là 500 ha, năm 2025 là 600 ha. Đây sẽ là bước đệm để người trồng hoa Sa Đéc thực hiện ước vọng của mình, hướng đến những mô hình trồng hoa công nghiệp đạt giá trị cao và vươn xa hơn trên thị trường”.
              Qúa trình vận hành một hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm 3 giai đoạn chính đó là Đầu vào – Sản xuất – Đầu ra. Trong đó Đầu ra chính là hoạt động nghiên cứu, thăm dò thị trường và bán hàng. Theo như kế hoạch phát triển của tỉnh Đồng Tháp thì tỉnh chỉ chú ý đến việc đầu tư cho Đầu vào mà không chú ý đến việc đầu tư cho Đầu ra. Với cách làm này tương lai thị trường cây cảnh Đồng Tháp sẽ rơi vào thế hoàn toàn bị động. Bán hàng là một hoạt động vô cùng quan trọng. Nó đóng vai trò quyết định, thúc đẩy và hướng đạo … cho toàn bộ quá trình vận hành một hoạt động sản xuất kinh doanh. Để cho thị trường cây cảnh không rơi vào tình trạng khủng hoảng thì số lượng x cây cảnh sản xuất ra phải tương đương với số lượng y cây cảnh mua vào. Hiện nay thị trường cây cảnh Việt Nam phát triển bát nháo, suy yếu do những nhà quản lí cấp cao chưa thiết lập được kênh nghiên cứu, thăm dò, mở rộng thị trường một cách khoa học và tối ưu. Thực tế chứng minh thị trường cây cảnh của chúng ta đang phát triển theo kiểu mạnh ai nấy làm, không có một tổ chức đứng đầu giữ vai trò hướng đạo cho ngành cây cảnh Việt Nam . Sản lượng, chất lượng, giá cả, chủng loại … cây cảnh sản xuất ra không tương thích với nhu cầu người tiêu dùng, làm đời sống người trồng cây cảnh gặp nhiều sóng gió, người tiêu dùng thì phải chấp nhận giá cao, chất lượng kém …, tạo điều kiện cho cây cảnh nước ngoài (cụ thể là Trung Quốc) tấn công thị trường cây cảnh trong nước. Đây là một thực trạng đau lòng! Mỗi khi ngày lễ hay tết đến, đân ta phải mua cây cảnh cao gấp nhiều lần giá hoa ngày thường, nhiều loại hoa bị hét lên đến giá bạc triệu khiến đời sống nhân dân khốn khổ. Thiết nghĩ hoa để làm đẹp cho đời, nó giống như những thực phẩm thiết yếu hàng ngày, vậy mà lại để cho một số kẻ phẩm chất kém trục lợi. Giả sử ai đó trong Nam muốn đặt hoa giao cho người ngoài Bắc thì sẽ rất lúng túng trong việc chọn được nhà cung cấp cây cảnh uy tín. Những mẫu cây cảnh trên các website thực ra chỉ minh họa cho vui, chứ khi giao chất lượng hoa hoàn toàn khác hẳn. Nếu như người mua muốn nhìn thấy hình ảnh thật của hoa trước lúc giao thì điều này sẽ trở nên vô cùng khó khăn.
              Để phát triển ngành cây cảnh Việt Nam , chúng ta phải làm ngược lại. Tức là chúng ta phải đi từ khâu Đầu ra, thiết lập được kênh nghiên cứu, thăm dò thị trường và bán hàng. Đây cũng là nhiệm vụ sống còn của dự án Bonsai nghệ thuật. Trước mắt ta giả sử một số điều kiện như nguồn cây cảnh cung cấp, giống, phân bón, nguyên liệu … đã có, từ đây ta sẽ đi triển khai dự án theo hướng phát triển sau:
             
             
             


Theo sơ đồ phát triển trên thì sau khi được cung cấp nguồn giống, phân bón, nguyên liệu cần thiết, B sẽ tiến hành nghiên cứu và trồng thử nghiệm. Nên nhớ rằng số lượng trồng thử nghiệm được giới hạn ở một mức cho phép nào đó. Trong quá trình trồng thử nghiệm B sẽ kết hợp với C để thiết kế ra loại cây cảnh mình muốn. Quá trình này hoàn tất sẽ chuyển sang D để thực hiện khâu kiểm định. Nếu chất lượng, kiểu dáng … cây cảnh đạt chất lượng sẽ chuyển sang E. E sẽ thực hiện các biện pháp nghiệp vụ quảng cáo, tiếp thị để xem phản ứng của thị trường thế nào. Nếu thị trường phản ứng NG (xấu) thì E sẽ phản hồi lại B để B nghiên cứu khắc phục, nếu thị trường phản ứng OK (tốt) thì E sẽ báo cho F để sản xuất hàng loạt. F chính là các nhà vườn tư nhân, các cơ sở, công ty trồng cây cảnh … F hoạt động theo sự định hướng của B, C và E cả về chất lượng, số lượng, kiểu dáng thiết kế, mẫu mã … Song song với quá trình sản xuất hàng loạt, G sẽ thiết lập kênh phân phối thành một mạng lưới để tiêu thụ cây cảnh trên toàn quốc và xuất khẩu. G có thể là một tổ chức uy tín nào đó đại diện cho cây cảnh Việt Nam để tìm thị trường ở nước ngoài, thương thảo về giá cả, kí kết các hợp đồng, xin tài trợ kĩ thuật … Kết thúc quá trình bán hàng không thể không thiết lập khâu Hậu mãi. Khâu này giúp ta gắn kết khách hàng một cách chặt chẽ hơn, thu mua những nguyên liệu sau tiêu dùng để làm cho giá thành cây cảnh giảm đến mức thấp nhất.
              Về cơ bản thì đầu tiên dự án Bonsai nghệ thuật sẽ đi theo hướng phát triển trên, tuy nhiên các khâu có thể đồng thời cùng triển khai chứ không phải khâu này triển khai xong rồi mới tới khâu kia. Đặc biệt, khâu tìm khách hàng và quảng cáo có thể triển khai ngay từ đầu để có cái nhìn sâu sắc hơn về thị trường cây cảnh. Khi dự án đi vào ổn định, ta sẽ phát triển thêm các khâu như cung cấp giống, sản xuất phân bón, nguyên liệu … Làm sao tạo một tác động rộng lớn tác động nhiều ngành nghề khác cùng phát triển. Cây cảnh không chỉ làm đẹp, mà hiện nay nó còn là nguyên liệu để sản xuất nhiều dược liệu, mĩ phẩm … đắt tiền. Trung tâm nghiên cứu B sẽ có nhiệm vụ nghiên cứu để nắm bắt tất cả điều này. Làm theo mô hình trên ngành cây cảnh Việt nam sẽ phát triển rất vững chắc!
2. Vì không tuân theo sơ đồ phát triển khoa học như dự án Bonsai nghệ thuật nên hiện nay nông dân phải tự mò mẫm từ khâu mua giống đến khâu thị trường:
              “Cư dân làng hoa Sa Đéc thích ứng rất nhanh với thị trường, vươn ra thế giới để tìm những giống hoa mới mang về đây trồng. Ngay từ những năm 1990 - 1995, nông dân Sa Đéc đã đến các vùng cấy mô, ươm cây ở Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan ... để tìm hiểu kỹ thuật, chọn những giống mới và chấp nhận mua với giá cao. Ông Nguyễn Văn Nhàn, Phó Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, cho biết: “Người trồng hoa ở đây, có người đi ra nước ngoài tìm hiểu kĩ thuật, mua giống hoa mới đến 3 - 4 lần mỗi năm. Họ tự mua vé máy bay đáp xuống các vùng nghiên cứu hoa và thăm dò, chọn cho mình những giống cây ưng ý. Trên 150 năm thăng trầm của làng hoa, mười năm nay mới có giống ngoại nhập do nông dân tự tìm tòi. Đó được xem là bước ngoặt lớn của nghề và người trồng hoa Sa Đéc”. Còn anh Tống Thiện Hồng, người “phát pháo” đầu tiên cho phong trào ra nước ngoài mua giống hoa ở làng hoa Sa Đéc, cho biết: “Chuyến đi đầu tiên của tôi là theo tua du lịch thông thường. Sang bên đó, tôi tách đoàn và thuê hướng dẫn riêng để đến các vườn cây cảnh. Chuyến đi ấy, tôi chỉ mang về được một giống mới vì giá khá cao và chưa biết khả năng thích ứng thời tiết ở đây như thế nào. Giờ khác rồi, trong vườn của tôi luôn có ít nhất 10 giống mới, có khi 20 - 30 giống mới. Thỉnh thoảng, tôi lại phải bay sang Thái Lan, Singapore ... để tìm giống mới, mỗi năm 3 - 4 chuyến. Có những chuyến đi tốn kém, chẳng chọn được giống nào nhưng vẫn phải đi”...
              Câu chuyện về những giống mới ở làng hoa Sa Đéc vừa được đặt tên tại Việt Nam hứa hẹn tiềm năng lớn trên thị trường hoa trong vài năm tới. Một giống cây mới nhập về Việt Nam mất từ 6 tháng đến một năm để xếp loại, đặt tên, và mất thêm 1 - 2 năm, thậm chí 3 năm để nhân giống trước khi đưa ra thị trường. Những cái tên vừa đặt đã tung vào dịp Tết Canh Dần 2010, như: Mai Vạn Phúc, Vạn Lộc, Phú Qúi, Thịnh Vượng, Tuyết Trắng, Liễu Hồng ... Các giống hoa mới hiện nay đều gắn với tài lộc, thịnh vượng. Theo những chuyên gia cây cảnh, chỉ cần 2 - 3 trong số 10 giống mới bán chạy trên thị trường được xem như thành công của người làm giống hoa. Bởi có những giống nhập về, nhân giống 3 năm trời nhưng khi tung ra thị trường lại bán không được và đành bỏ hết công sức, tiền của. Do vậy, nếu tính toán không kĩ, và không đủ khả năng thẩm định các chi tiết trên cây, nhà vườn rất dễ phá sản bởi các giống mới.
              Tại làng hoa Sa Đéc hiện có đến trên 200 giống kiểng nội thất và vài ngàn giống hoa các loại. Có những cây chưa được đặt tên tại Việt Nam . Tiêu chí đầu tiên đối với các nhà vườn là cây phải thích ứng với môi trường nhiệt đới; kế đó mới đến các đặc điểm, màu sắc. Vườn nhà của anh Tống Thiện Hồng hiện có rất nhiều giống mới, nhưng anh cho biết một số giống phải 2 năm nữa mới cho ra thị trường, do việc nhân giống hiện còn nhiều khó khăn và cần nghiên cứu rất nhiều. Tết Canh Dần 2010, anh Út To, một hộ trồng hoa ở Sa Đéc đã đưa ra thị trường giống cây mới - Tuyết Trắng và được nhiều khách hàng đặt mua bởi vẻ đẹp trên từng gân lá của loại cây dùng trong trang trí nội thất này. Theo phản ánh của nhiều hộ kinh nghiệm lâu năm trong nghề trồng hoa Sa Đéc, một số giống mới được du nhập về làng hoa Sa Đéc hiện tại là những giống đã “lỗi mốt” ở nước bạn, do muốn nhập giống mới, nhà vườn phải bỏ ra hằng trăm triệu đồng. Điều này vượt quá khả năng của hộ trồng cá thể, nên nhiều hộ chấp nhận mua giống với giá vài triệu đồng, cao lắm cũng chỉ 10 triệu đồng về nhân giống, miễn sao là giống mới tại thị trường Việt Nam.
              Tìm ra giống mới là nỗi khát khao của người trồng hoa Sa Đéc, họ luôn muốn có một phòng thí nghiệm, cấy mô ngay tại làng hoa của mình. Từ đó để đặt mục tiêu xa hơn, là làng hoa sẽ sản xuất theo hướng công nghiệp và trở thành điểm đến lí tưởng cho du khách, cho sinh viên nghiên cứu về hoa nhiệt đới. Người trồng hoa Sa Đéc vẫn đau đáu tìm hướng đi cho mình, bởi khả năng, tiềm lực tài chính có hạn”.
              Việc làm này đã khiến chi phí cây cảnh, rủi ro tăng lên rất nhiều, bên cạnh đó điều kiện thiếu thốn, trình độ khoa học thấp của người trồng khiến cho họ cứ mò mẫm để cho ra những sản phẩm chất lượng kém. Đây là một thực tế cần được chấn chỉnh!
3. Phát triển ngành cây cảnh đã không gắn kết với phát triển du lịch:
              Nhu cầu thăm quan, chụp hình, tìm hiểu về cây cảnh của khách du lịch là có thật, tuy nhiên, hiện nay công tác này còn chưa được chú trọng đầu tư nghiên cứu để làm một cách khoa học. Không phải sau khi thu hoạch cây cảnh đem bán thì người trồng cây cảnh mới có thu nhập, nếu họ biết gắn việc trồng cây cảnh với du lịch ngay từ đầu thì ngay khi hình thành vườn cây cảnh họ đã có tiền để trang trải chi phí. Đời sống người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu tham quan, du lịch dã ngoại, chụp hình kỉ niệm, cưới hỏi … của nhiều người đang tăng lên ào ạt, thế nhưng hầu như các nhà vườn còn rất lúng túng trong việc quảng bá thương hiệu, nắm bắt nhu cầu này. Có lần tôi đến Đà Lạt chơi, xin vào một nhà vườn để chụp hình kỉ niệm, nhà vườn này tỏ ra rất lùng túng trong việc hướng dẫn tôi tham quan. Khi tôi hỏi về poster (áp phích, quảng cáo …), các tờ rơi, danh thiếp, sổ tay nói về các quá trình hình thành và phát triển của làng hoa, lịch sử của hoa, kĩ thuật trồng, những thuận lợi và khó khăn … thì nhà vườn nói rằng … không có. Thiết nghĩ nếu làm kinh tế theo kiểu này thì cây cảnh Việt Nam không thể tiến lên được. Nhà vườn là nơi trồng cũng chính là nơi quảng bá và bán sản phẩm. Tất nhiên, để làm được điều này một mình nhà vườn không thể làm nổi mà phải có sự phối hợp rất nhiều tổ chức cá nhân liên quan. Vấn đề là ai sẽ nhận thức ra và có đủ tài năng để vận hành quá trình này?
              Theo sơ đồ phát triển của dự án Bonsai nghệ thuật ở trên thì B sẽ đóng vai trò nghiên cứu, hướng dẫn và làm tất cả các công tác chuẩn bị cho nhà vườn để tiếp đón du khách một cách chu đáo nhất. Nhiệm vụ của dự án Bonsai nghệ thuật là biến từng nhà vườn thành một khu du lịch sinh thái thu nhỏ, làm sao cho đi đến đâu trên đất nước ta du khách cũng thấy hoa là hoa. Hoa trở thành biểu tượng, niềm tự hào và góp phần nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của người dân. Nếu như mỗi vùng đều bố trí một vườn cây cảnh như vậy để cung cấp cho dân cư trong vùng, thì thử hỏi nạn làm giá cây cảnh hiện nay có đất sống? Cây cây cảnh giá vài chục ngàn, khi đến tay người dân đã tăng lên vài trăm ngàn, lợi nhuận thì thương lái bỏ túi, rủi ro thì nhà vườn chịu, còn người dân thì bị móc túi. Tôi bức xúc và không thể diễn tả được tâm trạng của mình khi biết được giá một bông hồng cao ngất ngưởng đợt 14/02/2011 vừa rồi. Làm kinh tế mà như ăn cướp như thế này thì thử hỏi ngành cây cảnh Việt Nam sẽ đi về đâu? Hi vọng rằng sẽ có những người cùng tâm huyết hợp tác với tôi để đất nước Việt Nam ngày càng tốt đẹp hơn!
4. Phân khúc thị trường làm chưa tốt, đầu tư Đầu ra chưa cân xứng Đầu vào:
              Thực tế thì nhu cầu sử dụng cây cảnh có ở mọi người, thế nhưng hầu như các nhà cung cấp cây cảnh chưa biết phân khúc thị trường để phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng và thu lại một nguồn lợi nhuận lớn cho mình. Hiện nay trên thị trường chỉ phân ra loại khách hàng chơi cây cảnh (bonsai) và loại khách hàng mua hoa cắt cành, đây là một khiếm khuyết lớn khiến Đầu ra thị trường cây cảnh chưa mở rộng. Tôi ví dụ, tôi là người thích chơi hoa cắt cành, nhưng điều này không có nghĩa là tôi không thích chơi cây cảnh. Sở dĩ tôi không chơi cây cảnh bởi hai lí do: 1. Giá cây cảnh quá cao; 2. Không có cây cảnh thu nhỏ là loại cây cảnh tôi ưa thích. Một ví dụ khác, khi bước vào một gian hàng bán hoa cắt cành, tôi không thể phân biệt được đâu là loại hoa cao cấp, đâu là loại hoa bình dân. Nếu như tôi muốn một bông hoa thật đẹp, cho dù nó mắc tiền thế nào đi nữa tôi cũng mua, thì cũng không có. Ngược lại, tôi chỉ đủ tiền để mua những đóa hoa bình dân, thì lại chịu một cái giá quá cao mà tôi không đủ sức. Người mua có người có nhu cầu rất cao, và cũng có người có nhu cầu cực thấp, nhưng tất cả họ đều muốn mua cây cảnh. Trong tâm linh và cách sống của người Việt Nam, cây cảnh dường như là cái gì đó không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Ngày tết cũng dùng hoa, lễ cũng dùng hoa, đám cưới cũng dùng hoa, đám tang cũng dùng hoa, cúng cũng dùng hoa, không cúng cũng dùng hoa … Nói chung, họ dùng hoa mọi nơi mọi lúc, dù buồn hay vui. Vậy tại sao cây cảnh lại không bán được? Thị trường cây cảnh phân khúc không rõ ràng, khiến cho nó không thể mở rộng được ra hơn nữa.
              “Ngày nay, nghề trồng hoa khá bấp bênh vì phải đầu tư nhiều (nhà kính, hệ thống tưới tiêu nhỏ giọt) thêm vào đó giá phân bón, nông dược tăng cao nếu không gặp thời, giá hoa rớt thì lỗ trắng tay, tiền thu được không đủ trả tiền thuê nhân công”, đây là hậu quả do việc đầu tư Đầu vào không cân xứng với Đầu ra. Mà Đầu ra có được đầu tư đúng đắn đâu mà có thể định hướng cho Đầu vào. Chính vì vậy, cây cảnh Việt Nam cứ đi trong mò mẫm, nếu phát triển lớn e rằng sẽ dẫn đến khủng hoảng. Tôi đầu tư trồng 1.000 cây lan vì nhu cầu thị trường là 1.200 cây lan, chứ không phải tôi đầu tư trồng 1.000 cây lan khi nhu cần thị trường chỉ có 800 cây lan thôi. Ai? Ai sẽ chỉ đạo dừng ở số lượng nào, cung cấp những chủng loại cây cảnh nào, chất lượng ra sao …? Người làm kinh tế không chỉ cần có tham vọng là được, điều quan trọng họ phải biết làm thế nào để đạt được tham vọng đó!
5. Không gắn kết được giữa nghề trồng cây cảnh với các ngành nghề khác như thủ công mĩ nghệ, kiến trúc, hội họa, thi ca, thư pháp …
              Dạo quanh một vòng chợ cây cảnh, các bạn dễ dàng thấy hiện nay cây cảnh chỉ được trồng trong các chậu đất nung, sành sứ, giỏ tre đan … ngoài ra không trồng trong bất cứ “vật chứa” nào khác. Ngành thủ công mĩ nghệ là thế mạnh của Việt Nam đã có từ rất lâu đời, thế nhưng chúng ta đã không biết kết hợp nó với ngành cây cảnh. Bên cạnh đó, ngành cây cảnh cũng không phối hợp được với nghệ thuật kiến trúc nhà cửa, hội họa, thi ca, thư pháp … Chưa có kiến trúc sư nào khi thiết kế nhà cửa lại thiết kế luôn các loại cây cảnh phù hợp với cấu trúc đưa ra. Điều này đã vô tình làm cho cây cảnh không thể thâm nhập sâu hơn vào đời sống của người dân. Thiên nhiên, hội họa, thi ca, thư pháp … vốn có mối liên hệ mật thiết với nhau, một cây cây cảnh sẽ có giá trị hơn nếu “chậu chứa” khắc những vần thơ … tuyệt tác. Thế nhưng hiện khía cạnh này vẫn bị bỏ ngõ! Nếu như ngành cây cảnh phát triển mà kết hợp được với các ngành nghề khác, thiết nghĩ sẽ tạo ra một khối lượng lớn công ăn việc làm cho người dân (không phân biệt giới tính, tuổi tác, trình độ, tay nghề, xuất thân ...), góp phần xóa bỏ đi nhiều tệ nạn xã hội, vực nhiều ngành nghề truyền thống sống dậy, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách thần kì. Những cụ ông, cụ bà, những người tàn tật … tưởng chừng như không có ích nữa thì lại được sống ý nghĩa hơn. Dự án sẽ không chỉ mang lại đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, mà còn góp phần giúp đời sống con người ngày càng xanh sạch đẹp, văn minh, tiến bộ …
6. Giá cây cảnh hiện nay trên thị trường quá cao!
              Tôi đứng rất lâu để ngắm một cây lan có ba cành hoa rất đẹp trong siêu thị của Nhật Bản, và tôi tự hỏi tại sao giá cây lan cùng loại bán ở Việt Nam lại có giá tương đương? Điều này chứng tỏ giá cây cảnh của Việt Nam khá đắt. Thu nhập người dân thì thấp mà phải chịu mức giá cây cảnh trên trời đó là một nghịch lí. Nghịch lí này có rất nhiều nguyên nhân:
+ Giá cây cảnh không theo chuẩn và minh bạch trên thị trường:
              Tôi ví dụ như hoa hồng. Hoa hồng có hàng chục loại hoa hồng. Mỗi loại chất lượng và giá cả hoàn toàn khác nhau, thế nhưng nhà cung cấp luôn muốn người tiêu dùng hiểu lầm bằng việc không đề ra chuẩn, minh bạch giá cả, trộn lẫn hoa này và hoa kia, cố tình bán bằng giá nhau ... Nếu bạn không rành trong việc mua hoa hồng, bạn rất dễ nhầm lẫn giữa một bông hồng đông lạnh và một bông hồng mới cắt lìa cành. Nếu không trong nghề bạn khó phân biệt được đâu là hoa hồng Đà Lạt và đâu là hoa hồng Hà Nội. Đó là nói về hồng, còn ở nhiều loại hoa mà chủng loại phong phú như hoa lan thì bạn dường như “quáng gà” vì không thể biết được hoa như thế nào là đẹp, hoa như thế nào là giá cao. Hiện nay thị trường cây cảnh mỗi nơi một kiểu, giá cả bán nháo, và thi nhau chém chặt người tiêu dùng, chưa có website nào đưa ra những tiêu chuẩn về hoa và giá cả cụ thể cho từng loại. Việc ra giá hoàn toàn theo cảm tính!
+ Yếu tố tâm lí, đồn thổi:
              “Gần đây trên các phương tiện truyền thông người ta thường bắt gặp những thông tin về cây cảnh Việt Nam dưới dạng bonsai với những nhận định ít nhiều có phần thoát li thực tế kèm theo là những cái giá cao nhất ngưởng tới hàng tỉ thậm chí hàng chục tỷ đồng”. (Xin lưu ý với các bạn rằng hầu hết những nhận định về cây cảnh đều đồn thổi và từ những người không có chuyên môn). Cũng chẳng hiểu vì lí do gì mà không ít người cho rằng 4 loài cây qúi nhất hiện nay là sanh, si, sung, lộc (vừng) trong khi nhiều loại cây khác thuộc dạng quí hiếm khó làm như: tùng, kim quất, nguyệt quế ... thì lọt ra ngoài danh sách. Dẫn đầu trong bảng sắp hạng hiện nay là giống sanh trồng trong chậu (mà một số người cố tình tránh dùng chữ bonsai) có dáng dấp cây đa đầu làng. Nếu cách nhìn nhận về giá trị của sanh có vẻ dễ được chấp nhận (vì đã được các bậc vương giả chú ý tới từ hàng trăm năm trước và chịu đựng được sự khắc nghiệt của thời tiết) thì việc đưa sung, lộc vừng vào hàng quí xem ra ít thuyết phục hơn bởi hai giống này mới chỉ xuất hiện trong bộ sưu tập của các nghệ nhân làng cây trong thời gian gần đây. Phải chăng người ta qúi cây không hẳn vì vẻ đẹp vật chất của cây, của quả, của hoa … mà còn vì những giá trị phi vật chất mang lại từ cái tên của cây gợi nên một sự may mắn thẩm kín nào đó như sung túc hoặc lộc nhiều?
              Tìm hiểu trên các trang mạng cây cảnh thì các thông tin về quá trình hình thành và phát triển cây cảnh ở nước ta còn rất mờ nhạt, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào thực sự có tầm cỡ đủ sức thuyết phục làm nền tảng cho văn hóa cây cảnh ở xứ ta. Việc chơi cây chủ yếu vẫn là tự phát, dựa trên sự ngẫu hứng của mỗi người từ đó tạo ra muôn nẻo đường đi khác nhau thậm chí có cả sự dị biệt trong thẩm định nghệ thuật. Vì thế một cây có khi được coi là cây giá trị nhất chủ vườn này nhiều khi lại chỉ được đánh giá là cây tầm tầm ở vườn kia. Về kiểu dáng, kích cỡ cây cảnh cũng chưa có được các qui chuẩn cụ thể. Người chơi cây miền bắc thường chú ý hơn vào những cây lớn phải vài người khiêng mới nổi thì ngược lại người chơi phía nam có phần nghiêng về các cây có kích thước nhỏ đến siêu nhỏ hơn. Ý tưởng tạo một tiêu chí chơi cây hợp với qui chuẩn của nhiều nước trên thế giới đang được giới chơi cây các tỉnh phía nam đồng tình ủng hộ. Tiêu chí này chú ý nhiều đến cây nhỏ và mini (một người bê trở xuống). Trong khi đó một họa sĩ có tên tuổi trong giới chơi cây phía Bắc vừa đưa ra bản dự thảo Tiêu chí đánh giá cây cảnh nghệ thuật mà chiều cao tối đa của cây có thể lên tới 1,6 mét.
              Sự khác biệt trong nhìn nhận, đánh giá, thẩm định cây giữa các vùng miền vẫn là một đề tài gây nhiều tranh cãi chưa đến hồi kết thúc. Hội Sinh vật cảnh Việt Nam với tư cách là tổ chức qui tụ lớn nhất lực lượng chơi cây cảnh cả nước thì thật đáng tiếc- chưa vươn được tới tầm là người cầm trịch để tổng kết, đúc rút kinh nghiệm nhiều vấn đề liên quan đến lĩnh vực sinh vật cảnh đang được đặt ra từng ngày trong xã hội”.
              “Một số chuyên gia cây cảnh của Nhật Bản khi dự hội thảo về cây cảnh nghệ thuật ở Việt Nam đã choáng váng khi biết có những cây cảnh đã được trao đổi, mua bán, định giá ở Việt Nam lên đến tiền tỉ, thậm chí cả triệu USD.

              Theo giới sành chơi cây cảnh nghệ thuật, để một cây cảnh đắt giá bạc tỉ cần có những yếu tố sau: Thứ nhất, cây phải có tuổi và phải ngồi trên chậu hàng trăm năm. Thứ hai, cây phải thuộc kì hoa dị thảo, kiểu dáng cổ quái, không giống bất cứ cây nào. Thứ ba, cây phải biểu đạt được chủ đề thông qua thế cây. Thứ tư, cây đó phải hợp gu với người chơi, hợp tuổi, sở thích …
              Để có được một cây cảnh đạt tiêu chí này không phải dễ. Một cây cảnh vài trăm năm tuổi phải được chăm sóc, tỉa tót qua nhiều đời mới đạt thành quả. Như vậy, cây cảnh đó không những đã ăn vào tâm thức người sở hữu mà nó còn trở thành báu vật gia truyền. Vì thế, về mặt tâm linh, không thể định giá được những cây này. Chẳng hạn, cây sanh dáng “long mẫu tử”, tuổi 300 năm, của dòng họ Đỗ ở Nam Điền, Nam Định được định giá lên đến 3 tỉ đồng, nhưng cả dòng họ này nhất quyết không bán. Theo họ, cái giá 3 tỉ đồng cho công phu tuyệt tác trường tồn những 300 năm có lẽ vẫn còn quá rẻ.
              Quả là họ cũng có cái lí của họ. Xét trong cả nước ta, số cây cảnh có tuổi vài trăm năm chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Chính vì nó lâu năm, nó thành vật gia truyền nên việc mua được nó không phải dễ dàng. Ngay như đại gia Thành “đất” đã gặp một dòng họ ở Ninh Hiệp cả trăm lần rồi, trả giá cũng đến tỉ nọ tỉ kia, nhưng vẫn chưa mua được, bởi nó là “tài sản tâm linh” của cả dòng họ.
              Dáng cây và chủng loại cây cũng biểu đạt sở thích của từng người. Theo giới am hiểu cây cảnh nghệ thuật thì người Hà Nội sành chơi, chơi tinh túy nhất và cách chế tác cũng rất riêng biệt, không giống bất cứ nơi nào trong nước, thậm chí khác biệt hoàn toàn với thế giới.
              Người quan tâm đến chủ đề về lối sống, sự giáo dục nhân cách, đạo đức thì thích những cây có dáng huynh đệ tương tùy, phụ tử, mẫu tử … Người thích triết lí thì chọn dáng bạt phong. Dáng bạt phong thể hiện ý chí mạnh mẽ của con người. Dù phải chống chọi với phong ba bão táp, thế cây nghiêng ngả, song đỉnh cây (có ý nghĩa là mặt trời, đầu người) vẫn quay về nguồn cội.
              Có người lại thích dáng quần thụ vì nó thể hiện tính đoàn kết dân tộc và những giá trị văn hoá sâu sắc. Những người thích lối chơi dân gian thì mê sanh, si, đa, đề, còn những người thích lối chơi cung đình thì chọn tùng, nguyệt, quế, du … Đối với giới sành nghệ thuật cây cảnh, chỉ nhìn cây là biết tính ông chủ của nó. Với người chơi cây dáng trực, thể hiện tính quân tử, cương trực. Còn người có tính mềm dẻo, khéo léo thì thích cây dáng huyền, hoành, siêu.
              Các đại gia sành chơi cây đắt tiền đều thổi ý nghĩa tâm linh vào cây. Đại gia Đinh Hồng Quân bỏ ra 2,4 tỉ đồng để mua thêm một cây sanh nữa đặt bên cây sanh 2 tỉ đồng cho chúng có đôi, kẻo xui xẻo. Nguyễn Trọng Thành thì khẳng định, chính cây sung già giữa vườn đã mang lại đại lộc cho anh. Người ta chăm sóc cây sung cả trăm năm trời không có quả, tưởng sung đực, nhưng khi bán cho anh, chỉ vài năm sau nó ra quả chĩu chịt, dù sống cằn cỗi trong chậu, bám vào tảng đá, chỉ có nhúm đất. Cũng kể từ khi cây sung già này ra quả, công việc kinh doanh, làm ăn của anh thuận buồm xuôi gió, lộc đến đầy nhà, gia đình hạnh phúc. Chính vì vậy, cây sung này dù giá trị không cao, nhưng giá nào anh cũng không bán, bởi bán nó sợ mất lộc!
              Nguyễn Trọng Thành khẳng định khi ta tâm huyết với cây và chăm bón, tỉa tót cây đến độ tinh túy, đạt chân - thiện - mĩ thì cây như hiểu ý người. Những lúc anh vui, đứng ngắm cây thấy cành lá rung rinh như reo đón. Còn lúc anh buồn, trông lá cây thấy ủ rũ buồn theo. Điều này không biết có tin được không, nhưng giới chơi cây đều cảm thấy như vậy. Do yêu cây, coi cây như thân thể mình, nên khi tỉa một cành lá cũng phải suy nghĩ chán, rồi chọn giờ đẹp, ngày đẹp, tinh thần sảng khoái mới nâng kéo. Kẻo nhỡ tay, bố cục hỏng, tiền tỉ đi tong”.
              Chính vì triết lí chơi cây cảnh đã đạt đến độ “đồn thổi” như vậy, nên ở nước ta đã xuất hiện những “siêu cây cảnh” được định giá lên đến cả triệu đô la Mĩ.
              “Giữa năm 2008, giới chơi cây cả nước được phen choáng váng khi gần như cùng một lúc, hai đại gia đều ở Việt Trì, gồm Thành “vàng”, chủ tiệm vàng có tên Nam Thành và Toàn “đô la”, công bố hiện mỗi người đang sở hữu một cây cảnh được định giá lên tới 1,2 triệu USD.
              Đại gia Thành “vàng” giàu có thế nào ở đất Việt Trì thì ai cũng biết cả, bởi ông sở hữu một loạt tiệm vàng bạc ở xứ này. Nhưng câu chuyện về cây cảnh có cái tên rất ẩm thực là “con gà mâm xôi”, hay “mâm xôi con gà”, thì nhuốm màu huyền thoại.
              Theo đó, cây sanh này thuộc sở hữu của đại gia Cường “họa sĩ” đã bán cho Quý “trôi” với giá gần 1 tỉ đồng. Quý “trôi” bán cho một đại gia ở quận Đống Đa vào đầu năm 2008. Cuối cùng nó về tay đại gia Thành “vàng” với giá 5,6 tỷ đồng. Sau khi cây cảnh này được trưng bày để thi thố vẻ đẹp ở “vườn thượng uyển” của đại gia Nguyễn Văn Phiến, tức Phiến “cá” ở thị xã Vĩnh Yên, một tỉ phú người Nhật đã trả 1,2 triệu USD.
              Điều khiến người ta giật mình là Thành “vàng” không chút mảy may rung động với cái giá đó. Tuy nhiên, hiện giờ cây cảnh do đại gia này sở hữu đang lưu lạc ở phương trời nào, không ai rõ. Giới chơi cây cảnh đồn đoán rằng, hiện nó đang được cất giấu dưới Hà Nội. Có thể nó được gửi trong khu vườn bí mật nào đó của một đại gia chơi cây có máu mặt.
              Theo lời đồn đoán, cây “con gà mâm xôi” của đại gia Thành “vàng” có xuất xứ từ chùa Hương Tích từ 30 năm trước. Nó vốn là một cây cảnh được trồng trong sân chùa, nhưng không biết bằng cách nào nó rơi vào tay của các đại gia. Tuổi đời của cây sanh này phải tính bằng vài trăm năm, do đó, riêng giá trị tuổi tác của nó đã kinh khủng lắm rồi. Tuy nhiên, giới chơi cây có đầu óc mê tín đều tỏ vẻ sợ tác phẩm “con gà mâm xôi”, bởi nó có xuất xứ từ chùa.
              Cũng vẫn theo lời đồn đoán, một số đại gia đã gặp chuyện chẳng lành khi sở hữu siêu cây cảnh này, nên tìm cách bán đi. Cũng có lẽ vì thế mà đại gia Thành “vàng” dù sở hữu nó, nhưng lại không dám trưng nó trước nhà để ngắm mà đem gửi ở xa. Cứ vài hôm anh ta lại phóng ô tô xuống Hà Nội để ngắm “siêu cây cảnh” triệu đô của mình.
              Một “siêu cây cảnh” cũng khiến nhiều người choáng váng, đó là cây tùng có tên “ông Bụt” của Phan Văn Toàn ở Việt Trì. Sở dĩ “đại cổ tùng” này có giá 1,2 triệu USD là bởi vì nó có tuổi tới 500 năm! Theo giới chơi cây, quả thực, nó được liệt vào hàng cực độc. Thật khó có thể kiếm đâu ra một cổ tùng đẹp hơn thế nữa. Chẳng biết cái giá 1,2 triệu  USD kia thật giả thế nào, chuẩn xác đến đâu, nhưng với Phan Văn Toàn, một triệu phú đô la mà xứ Việt Trì ai cũng nghe tên, được người ta gọi với cái tên sặc mùi tiền Toàn “đô la”, thì “siêu cổ tùng” của anh là vô giá. Hỏi chuyện cây tùng “ông Bụt” được định giá 1,2 triệu USD, Toàn “đô la” cười sảng khoái bảo: “Đấy là có đại gia trả giá 1,2 triệu đô-la, chứ tôi có bán đâu. Bán nó rồi, tôi tìm đâu ra cây tùng đẹp hơn cây đó nữa!”.
              Toàn “đô la” tuyên bố rằng, anh đang sở hữu nhiều cây cảnh đắt tiền nhất Việt Nam và không có đối thủ chơi cây cảnh nào có thể sánh được. Hiện anh sở hữu 3 khu vườn lớn và cây bé nhất của anh cũng có giá 50 triệu đồng, cây đẹp “tầm tầm” cũng vài trăm triệu đến vài tỉ, còn đẹp nhất thì có hai cây, gồm cây tùng “ông Bụt” và cây sanh “dáng làng”. Cây sanh “dáng làng” 200 năm tuổi anh trưng trước biệt thự vừa được một đại gia trả tới 22 tỷ đồng nhưng anh chưa bán, bởi hiện anh không cần tiền. Theo anh, nếu cần tiền thì bán những cây có giá vài trăm triệu đến vài tỷ là đủ tiêu rồi. Cây sanh này được anh mua ở trong Huế, từng thuộc sở hữu của một vị quan lại, với giá 3 tỷ đồng từ mấy năm trước.
              Theo thống kê chi tiết, từ ngày “trót” ham mê cây cảnh đến nay, Toàn “đô la” đã dốc túi tổng cộng 110 tỷ đồng để rước cây cảnh về nhà. Toàn “đô la” vốn là một ông “vua” khai thác cát sỏi trên sông Lô, cung cấp cho mấy tỉnh miền Bắc, một công việc chả liên quan gì đến nghệ thuật. Ấy vậy mà, đùng một cái anh dính vào thú chơi và buôn cây cảnh. Cũng theo Phan Văn Toàn, không kinh doanh thứ gì lãi bằng kinh doanh cây cảnh. Hiện tại, cây nào anh mua về cũng đều đã có giá gấp 3 lần, thậm chí có cây lãi gấp trăm lần.
              Toàn “đô la” khoe, hồi năm ngoái, anh đã bán một “cổ sanh” với giá 1,1 tỷ đồng, trong khi mấy năm trước anh mua được ở khu vực Thụy Vân với giá 5 triệu đồng. Cây sanh này vốn mọc hoang dại cằn cỗi ở bờ rào nhà dân. Giới chơi cây cảnh nghệ thuật Phú Thọ định giá tổng giá trị cây cảnh Toàn “đô la” sở hữu lên đến 300 tỷ đồng, một con số thật khủng khiếp!
              Với những siêu cây cảnh đắt giá, đại gia này không dám chạm  dao kéo vào vì chưa tin vào tay nghề của mình. Anh thuê riêng một “bác sĩ cây cảnh” rất giỏi của Phú Thọ tên là Phương “còi” và trả lương rất cao để anh này chuyên tâm chăm sóc, tỉa tót, khám chữa bệnh cho cây.
              Nói về những “siêu cây cảnh triệu đô” không thể không nói đến hai “kì cây” có một không hai, hiện đang được cất giấu ở làng Triều Khúc (Hà Nội). Hai “siêu cây cảnh” này gồm cây sanh của ông Nguyễn Gia Hiền và cây đa búp đỏ của ông Châu Thu. Trong rất nhiều cuộc thi, hai “kì cây” của hai đại gia này đều ẵm giải vàng, bởi đó không có đối thủ cân xứng. Trong Festival cây cảnh nghệ thuật tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh 2006, một tin tức gây sốc với giới cây cảnh, sốc cả với các vị trong ban giám khảo phía nam là cây đa của ông Châu Thu và cây sanh của ông Hiền được các đại gia đến tham dự Festival tranh nhau trả giá lên đến 400 ngàn USD một cây (tính ra tiền Việt là 6 tỉ đồng).
              Tuy nhiên, mọi người thấy lạ là hai vị này chỉ cười mủm mỉm mà không rung động gì với cái giá ấy. Theo hai ông, từng có một đoàn tham quan của Trung Quốc, khi đến thăm vườn cây của họ ở Hà Nội, đã định giá chúng trên thị trường quốc tế là 5 triệu USD(?). Do vậy, nếu cần tiền, dù phải bán cả vườn cây, hai ông cũng không bao giờ bán “báu vật” này.
              Có một điều đáng quan tâm là những cây bạc tỉ, triệu đô la ở Việt Nam lại không có nhiều giá trị với giới chơi cây cảnh ở Nhật Bản. Ngược lại, những cây cảnh được mua bán với giá hàng triệu đô la của Nhật Bản, nơi chơi cây cảnh tinh túy nhất thế giới, cũng không gây cho các đại gia ở Việt Nam cảm xúc gì. Như vậy, cây đẹp hay không, có giá trị hay không còn tùy không những vào sở thích từng người mà còn phụ thuộc vào cả nền văn hoá dân tộc. Thế nên, giá trị thực của những cây cảnh ở Việt Nam có đến triệu đô la Mỹ hay không thì không ai rõ, nhưng có một điều, các đại gia người Việt luôn sẵn sàng chi tiền tỉ để mua cây về ngắm! Thú chơi của đại gia quả khiến người nghèo… khiếp vía!”.
              “Thôi thì cứ mặc kệ cho các đại gia cây cảnh sống với ước vọng triệu đô của mình. Chỉ tội cho không ít đại gia, tiền thì nhiều, nhưng vốn hiểu biết về cây thì ít, nên đã bị khối kẻ dắt mũi, phải móc túi chi ra tiền tỉ để mua về những cây… đa làng”.
+ Kĩ thuật trồng cây cảnh của ta còn quá kém:
              Chính do kĩ thuật trồng cây cảnh của ta còn quá kém nên chi phí đã tăng rất cao. Ở nhiều nước phát triển người ta đã biết áp dụng các khoa học kĩ thuật như sử dụng năng lượng mặt trời, sức gió, cải tạo đất, tận dụng phân bón từ rác thải ..., thế nhưng hầu như mọi nguyen liệu phục vụ cho việc trồng cây cảnh ta đều phải mua (thậm chí mua từ nước ngoài) với giá cao. Chi phí trồng bỏ ra rất nhiều, cộng với chi phí bảo quản, vận chuyển ... không khoa học và tối ưu làm cho giá cây cảnh của ta cao ngất ngưởng. Cây cảnh đã trở thành một hàng hóa xa xỉ mà người dân chỉ dám mua tặng cho nhau khi có dịp. Đây là một khuyết điểm khiến ngành cây cảnh Việt Nam gặp nhiều sóng gió.
+ Khâu cung cấp giống chưa tốt:
              Đa phần giống hoa ở Việt Nam được nhập ở nước ngoài, hiện nay công tác nhân giống cũng đã được chú trọng nhưng vẫn còn ở mức yếu kém, giống chưa phong phú, nhiều, chất lượng, rẻ ... Nếu công tác nhân giống phát triển tốt sẽ góp phần không nhỏ vào việc giảm nhiệt ở thị trường hiện nay.
              Ngoài những lí do kể trên giá cây cảnh Việt Nam còn cao do nhiều nguyên nhân khác nữa như: Chi phí vận chuyển cao, nguyên vật liệt đắt đỏ, nạn nói thách, chém chặt ... Đã đến lúc chúng ta phải hành động cụ thể để vực ngành cây cảnh trong nước đứng dậy!

7. Chỉ tập trung vào hoa cắt cành, bỏ quên thị trường hoa trồng trong chậu:
              “Theo anh Nguyễn Văn Tới – một người con của Đà Lạt và có nhiều năm gắn bó với các chương trình khuyến nông cây hoa (hiện là Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp Đà Lạt), từ 1985 đến 1995 có thể coi là giai đoạn trở mình của ngành trồng hoa phố núi với phong trào “nhà nhà trồng lan, người người trồng lan” xuất khẩu sang các nước thuộc Liên Xô và Đông Âu với 3 loại hoa chính là địa lan, hoa lys trắng và lay – ơn với tổng sản lượng khoảng 26 triệu cành. Tuy nhiên, phải đến năm 1995 thì nghề trồng hoa Đà Lạt mới chính thức “bùng nổ” với sự xuất hiện của làng hoa công nghiệp Dalat Hasfarm (100% vốn nước ngoài). Chỉ với diện tích ban đầu 2 ha, làng hoa này đã cho ra đời nhiều sản phẩm hoa cắt cành và hoa chậu phong phú về chủng loại giống, rực rỡ về màu sắc và chất lượng cao đã làm thay đổi hẳn tư duy của người trồng hoa. Ngay lập tức, nhiều giống hoa cúc mới của Dalat Hasfarm đã được nhà vườn đưa vào sản xuất, cùng với phương pháp “thắp đèn sưởi ấm cho hoa” đã cung cấp ra thị trường hàng chục loại hoa cúc khác nhau vào dịp tết. Thu nhập của người trồng hoa cũng tăng vọt đã kích thích người dân mở rộng diện tích hoa cắt cành ở làng hoa Thái Phiên, Trạm Hành, Đa Thiện”.
              Hoa trồng trong chậu có nhiều ưu điểm mà hoa cắt cành không bao giờ có được, thế nhưng một điều lạ là chúng lại không được chú trọng. Phần lớn hoa trồng trong chậu chỉ bán trong các dịp tết, hay bán nhỏ lẻ mà không đại trà, lượng xuất khẩu thì còn rất hạn chế. Đây là một khiếm khuyết không thể chấp nhận được nếu muốn thị trường cây cảnh Việt Nam bao cao bay xa hơn nữa.

              Hoa trồng trong chậu có nhiều ưu điểm nổi bật sau đây:
+ Về thời gian sử dụng: Hoa cắt cành không thể nào so sánh được với hoa trồng trong chậu. Thời gian sử dụng của hoa trồng trong chậu rất lâu, do đó dễ dàng vận chuyển đi khắp nước và xuất khẩu. Bạn hãy tưởng tượng một chậu hoa được đóng hộp như bánh kẹo khi giao hoa đến tay người tiêu dùng chất lượng hoa gần như đảm bảo 100%.
+ Về giá trị tinh thần: Giả sử bạn mua một bông hoa cắt cành về trưng trong nhà, bạn không thể có cái cảm giác thú vị bằng một chậu hoa được tạo hình nghệ thuật đem đến cho bạn cả cái hồn của thiên nhiên. Xét về góc độ tâm linh, văn hóa, thẩm mĩ, môi trường … hoa trồng trong chậu bao giờ cũng hơn hoa cắt cành.
+ Về giá cả: Bạn ra chợ mua một bó cúc 10.000 VND sử dụng được 5 ngày, so với một chậu hoa cúc 50.000 VND sử dụng được hơn 1 tháng thì quả là chậu hoa cúc giá vẫn rẻ hơn. Bên cạnh đó, hoa trồng trong chậu còn góp phần xóa đi nạn chặt chém người tiêu dùng trong những dịp lể, tết … Nhu cầu sử dụng hoa tươi ở nhiều cá nhân, tổ chức rất lớn, nếu sử dụng hoa trồng trong chậu sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí. Ví dụ như một số công ty, bệnh viện … hay trưng hoa tươi trước cửa ra vào, bàn tiếp tân …, nếu như dùng hoa cắt cành thì phí hoa hàng tháng có thể lên đến cả triệu, nhưng nếu thay hoa trồng trong chậu thì chỉ giảm còn vài trăm. Mặt khác, họ luôn được thay hoa tươi mới hàng ngày. Vì sao? Vì những cửa hàng bán hoa sẽ thu hoa trong chậu về để bán cho người khác và thay hoa mới cho họ. Hoa trong chậu đem lại 2 nguồn thu nhập cho cửa hàng bán hoa là cho thuê hoa, và bán hoa. Ngay cả khi đến thời điểm hoa trồng trong chậu gần tàn mà vẫn chưa bán được, các cửa hàng hoa có thể sử dụng hoa đó giống như hoa cắt cành, rủi ro trong kinh doanh sẽ được giảm thiểu. Với cách làm này giá thành hoa đến với người tiêu dùng cũng sẽ giảm đi đáng kể. Tôi ví dụ, giá thành một chậu hoa là 100.000 VND, nhưng khi tôi cho mướn thu được 50.000 VND, thì giá thành chậu hoa bây giờ chỉ còn một nửa. Hoa sẽ luân chuyển và đến được với tất cả mọi người.
              Hoa cắt cành chỉ dùng trong trường hợp hoa trồng trong chậu không thể thay thế. Tôi thấy ở nhiều nước như Nhật Bản, Trung Quốc …, họ có thể tặng nhau những chậu hoa được tạo hình và trang trí rất đẹp trong những ngày vui. Tại sao chúng ta không thể làm như vậy? Một cửa hàng hoa mua 1.000 bông hoa cắt cành về, nếu không bán được trong 3 ngày thì phẩm chất hoa đã kém, họ phải đối diện với thua lỗ, phá sản, trong khi đó bạn có thể yên tâm nếu hoa trong tiệm là hoa trồng trong chậu. Nếu biết điều phối số lượng hoa cắt cành và hoa trồng trong chậu thì rủi ro sẽ rất thấp. Khách bước vào cửa hàng hoa trồng trong chậu bao giờ hoa trong cửa hàng cũng rực rỡ làm cho sinh khí kinh doanh luôn tràn đầy, khác hẳn với một tiệm hoa cắt cành ủ rũ. Hoa trồng trong chậu chính là hướng đi mới của dự án Bonsai nghệ thuật!

Nguồn: Chat Master